NHỮNG VỊ CỨU TRỢ VÔ HÌNH – CHƯƠNG 16: Công việc giúp đỡ người chết

0
77

CHƯƠNG XVI

Công việc giúp đỡ người chết

Những giáo lý sai lầm, vô lý về những tình trạng sinh hoạt sau khi chết, là điều không may cho thế giới Tây Phương, vì nó gây ra nhiều hậu quả tai hại. Những người vừa mới rời bỏ thể xác thường bị bối rối và sợ hãi cực độ, khi nhận thấy những sự việc xảy ra ở cõi trung giới, tất cả đều rất khác xa với các điều mà tôn giáo của họ đã cho họ biết lúc còn sống. Mới đây thái độ tinh thần của đa số các người chết đã được một tướng lãnh người Anh, mạnh mẽ nói lên khá đầy đủ. Sau khi chết ba ngày, ông gặp một đoàn viên của nhóm người cứu trợ mà ông đã từng quen biết lúc còn ở cõi trần. Sau khi khuây khỏa trút hết những lo lắng trong lòng, nhờ được tâm sự với vị cứu trợ, những lời nói đầu tiên của ông là: “Nhưng, nếu tôi chết thì bây giờ tôi ở đâu đây? Vì nếu đây là cõi trời thì tôi thấy nó không đáng với danh xưng ấy, còn nếu đây là cõi địa ngục thì nó lại tốt đẹp hơn điều tôi trông đợi.”

Nhưng điều không may là phần đông thiên hạ nhìn cuộc đời một cách kém triết lý. Họ đã hấp thụ một giáo lý dạy rằng, tất cả con người đã có định mạng từ những ngọn lửa thiêng bất diệt, chỉ trừ vài phần tử được ưu đãi, là những bậc siêu nhân. Theo đó nếu tự quán xét, thì họ sẽ thấy ngay là họ không thuộc vào hàng siêu nhân kể trên. Thường là họ ở vào một trạng thái hoảng sợ từng giây, từng phút, nghĩ rằng cõi thế giới mới mà họ đang ở sẽ tiêu tan, bỏ họ rơi vào móng vuốt của một ác quỉ, giống như điều mà họ đã được chỉ dạy lúc còn sống. Trong nhiều trường hợp, họ phải trải qua sự đau khổ tinh thần lâu dài, trước khi thoát ra khỏi ảnh hưởng nguy hại của các giáo lý có ngụ ý về những hình phạt đời đời. Trước khi họ có thể nhận thấy rằng vũ trụ không bị thống trị bởi một vị thần ác độc xấu xa, có tính khí bất thường, thích thú nhìn những nỗi thống khổ của nhân loại, mà chính là do một luật tiến hóa nhân đạo và nhẫn nại phi thường, hoàn toàn vô tư, mãi mãi hiến cho nhân loại, ở mỗi giai đoạn sinh hoạt, những cơ hội tiến bộ mà con người được tự do lựa chọn.

Người ta nhận thấy, trong những cộng đồng thuộc Cơ Đốc tân giáo, điều sai lệch nầy lại được nhấn mạnh nhiều nhất. Trong khi giáo lý về cõi luyện tội của giáo hội Thiên Chúa La Mã thì gần gũi hơn với quan niệm về cõi trung giới, và ít ra, những phần tử tuân giữ giáo qui, nhận thức rằng sau khi chết, họ chỉ tạm thời ở nơi cõi ấy, và nhờ những nguyện vọng tâm linh khẩn thiết mà họ có thể thoát ra khỏi nơi đó mau lẹ. Đồng thời, họ nhìn nhận sự cần thiết chịu đựng những khổ đau có thể đến với họ, để xóa đi những khuyết điểm về đạo đức, trước khi họ có thể bước sang những miền cao hơn và rực rỡ hơn.

Vậy người ta thấy rằng những vị cứu trợ có nhiều việc phải làm, để giúp những người vừa mới chết, bằng cách an ủi, làm cho họ bình tĩnh, thêm nghị lực, và hướng dẫn họ trong nếp sống mới. Nơi cõi trung giới cũng như ở cõi trần, nhiều người chưa sẵn sàng chấp nhận những lời khuyên bảo của những vị hiểu biết nhiều hơn họ. Tuy nhiên, vì sự lạ lùng, bỡ ngỡ nơi hoàn cảnh mới, nên những người chết thường dễ chấp nhận sự hướng dẫn của những người mà họ nghĩ là đã quen thuộc với hoàn cảnh nơi ấy. Nhờ sự làm việc tận tâm của nhóm cứu trợ mà thời gian lưu trú nơi cõi trung giới của nhiều người được rút ngắn một cách đáng kể.

Đành rằng, không ai có thể làm thay đổi được nhân quả của kẻ khác. Trong suốt thời gian sống ở cõi trần, con người đã tự tạo cho mình một cái vía khá rắn chắc, và bao giờ cái vía nầy chưa hoàn toàn tan rã, thì họ chưa có thể vượt lên cao để vào cõi thiên đàng. Do sự không hiểu biết và thái độ không thích hợp, mà thời gian để thể vía tan rã phải kéo dài.

Tất cả các học viên cần phải hiểu rõ ràng là, sau khi rời bỏ xác thân, thời gian sinh sống ở cõi trung giới tùy thuộc vào hai yếu tố chánh: bản chất của đời sống vật chất trong kiếp đã qua, và trạng thái tinh thần sau khi rời bỏ xác thân. Trong suốt cuộc sống ở cõi trần, con người thường xuyên ảnh hưởng lên những chất liệu cấu tạo nên thể vía của chính họ. Đặc tính của thể vía chịu ảnh hưởng một cách trực tiếp bởi những đam mê, những mối xúc động và ham muốn. Nó chịu ảnh hưởng một cách gián tiếp từ trên xuống bằng tác động của tư tưởng, và từ dưới lên bởi lối sống thường ngày, biết tiết dục hay buông thả, trong sạch hay dơ bẩn, nó cũng chịu ảnh hưởng bởi thức ăn, thức uống của họ. Một người miệt mài trong cảnh trụy lạc, bất chánh, là họ đã ngu xuẩn tạo nên một thể vía trì độn, thô kệch, chỉ quen đáp ứng với những rung động bậc thấp của cõi trung giới, nên sau khi chết họ bị trói buộc nơi cảnh thấp nầy, và thể vía phải cần thời gian rất lâu để tan rã. Trái lại nếu con người sống một cuộc đời chân chánh, có qui củ, họ sẽ tạo nên một thể vía đẹp đẽ, làm bằng những chất liệu tinhvi hơn, sau khi chết họ ít bị rối loạn, buồn phiền và sẽ phát triển trên đường tiến hóa nhanh hơn.

Yếu tố quan trọng thứ nhì thường ít được để ý đến, là con người cần phải nhận thức rằng giai đoạn hiện tại chỉ là một thời gian ngắn ngủi trong chu trình tiến hóa. Đây là giai đoạn con người rút về nội giới, trên đường trở về cõi riêng của linh hồn. Do đó, phận sự của họ là phải từ bỏ càng nhiều càng tốt những tư tưởng ham mê vật chất trần gian, và phải chú tâm nhiều hơn đến các vấn đề tinh thần. Vì con người chỉ sinh hoạt hoàn toàn bằng tinh thần trong suốt thời gian ở cõi thiên đàng. Như thế, con người tự nhiên sẽ làm cho thể vía tan rã nhanh hơn và sẽ tránh được lỗi lầm. Đáng tiếc là phần đông người đời tự làm trễ nải một cách vô ích nơi những cảnh thấp, là nơi mà con người đúng ra chỉ cần lưu trú một thời gian ngắn mà thôi.

Sựchậm trễ trong tiến trình giải thoát là do con người say mê bám chặt vào cõi trần gian mà họ vừa lìa khỏi. Chỉ vì họ không chịu thănghoa tư tưởng và tình cảm, mà cứ mãi tiêu phí thời giờ cố gắng đeo níu, liên lạc với cõi trần. Như thế họ cũng làm trở ngại cho công táccủa nhóm cứu trợ đang muốn giúp đỡ họ. Đối với những người sống thuần về vật chất, chỉ thích thú với những sự việc trần tục, đến khi chết rồi cũng vậy, họ cứ bám chặt vào đó với mối tuyệt vọng. Theo thời gian, tự nhiên càng ngày họ càng khó liên hệ được với sự vật ở cõi trần. Khi đó, thay vì họ vui vẻ, can đảm chấp nhận tiến trình tinh luyện tinh thần để tiến lên, thì họ lại cố gắng chống lại bằng tất cả những phương tiện mà họ có thể có được.

Dĩ nhiên, quyền lực mạnh mẽ của luật tiến hóa, cuối cùng vẫn thắng được con người và đẩy họ vào trào lưu đúng đắn, nhưng họ cứ mãi chống cự từng bước một trên đường đi. Làm như thế không những chỉ rước lấy đau khổ, buồn phiền dai dẳng một cách vô ích, mà lại cònlàmchậm trễ bước đường tiến lên trên và kéo dài cuộc lưu trú nơi những vùng trung giới một thời gian gần như vô hạn. Chứng minh chohọ biết rằng sự phản kháng dốt nát nầy đối với ý chí vũ trụ là nghịch với luật thiên nhiên, đưa họ đến việc chấp nhận một thái độ tinh thầnđúng đắn hơn. Đó là phần việc lớn lao trong nhiệm vụ của những vị cứu trợ đang cố gắng giúp họ.

Những vị cứu trợ còn có thể giúp nhiều hơn nữa cho những người nào đã có nghiên cứu các vấn đề nầy lúc còn sống, và đã tập làm chủđược bản tánh thấp hèn. Như tôi đã trình bày trong quyển “Cõi Trung Giới” và quyển “Bên Kia Cửa Tử.” Ngay sau khi rời bỏ xác thân, chất liệu cấu tạo nên thể vía bị xếp đặt lại thành những lớp vỏ đồng tâm. Sự sắp xếp nầy xảy ra là do tác động của tinh chất dục vọng (desire-elemental). Sự kiện nầy giới hạn ý thức một thời gian vào cảnh thấp nhất. Nhưng người chết có thể chống lại sự xếp đặt nầy, cũng giống như lúc còn sống ở cõi trần con người có thể chế ngự được những dục vọng nhờ ý chí và quyết tâm. Do đó sau khi chết con người cũng có thể làm chủ được thể vía, nếu họ chịu sử dụng năng lực của ý chí. Tóm lại, con người có thể chống lại sự sắp xếp cái vía thành từng lớp vỏ, và do ý chí họ làm cho cái vía trở lại uyển chuyển như lúc đầu. Như thế, thể tình cảm giữ được nguyên vẹn trạng thái như lúc còn sống ở trần gian. Thật là đáng giá cho một cuộc tranh đấu lâu dài chống lại tinh chất, cũng giống như cuộc đấu tranh không ngừng trong lúc sống, khi con người cương quyết chế ngự những dục vọng mạnh mẽ. Sự cố gắng nầy rất xứng đáng, vì khi được thành công thì người chết được tự do đi lại khắp nơi trong cõi trung giới, khi đó ý thức không bị giới hạn ở một cảnh, mà cùng một lúc ở tất cả các cảnh. Trong trường hợp một người lúc còn sống ở cõi trần có đầy đủ ý thức khi sang qua cõi trung giới thì thời gian sống ở trung giới được rút ngắn lại rất nhiều, và cuộc sống ở cõi trung giới được hạnh phúc và hữu ích hơn. Những người được tự do như thế sẽ giúp đỡ được nhiều người khác. Họ có thể được hướng dẫn để gia nhập vào nhóm cứu trợ và nhận lãnh những công việc của nhóm. Người như thế giúp ích rất nhiều cho những người khác ở cõi trung giới và đồng thời tạo được nhiều quả lành cho kiếp tương lai.

Khi cái vía bị sắp xếp lại thành từng lớp đồng tâm thì nó ngăn trở và làm chậm trễ sự tiếp xúc lại với người thân, đó cũng là một lý do mà con người chống lại sự sắp xếp ấy. Thể vía không có những giác quan riêng biệt như xác thân. Thể vía của con người gồm một phần giống hình trứng, bao bọc chung quanh phần bên trong cấu tạo bởi chất liệu đậm đặc hơn, giống hệt như thể xác của người ấy. Mặc dù có hình thể của đôi mắt, nhưng sự thấy không cần qua đôi mắt, nó có tai, nhưng sự nghe không cần qua lỗ tai. Thể vía thấy và nghe (hay nói đúng hơn, nó nhận những sự rung động tạo ra những cái tương đương trong thế giới vật chất, mà chúng ta gọi là thấy và nghe) không qua những cơ quan đặc biệt, mà qua bất cứ một phần tử nào bên ngoài bề mặt của thể vía, tiếp xúc ngay lúc đó.

Thể vía được cấu tạo bằng những chất liệu rút ra từ những cảnh của cõi trung giới (nhắc lại: cõi trung giới chia làm 7 cảnh). Mỗi loại chất liệu của thể vía chỉ có thể tiếp nhận những rung động thích hợp với nó ở cảnh ấy. Tất cả những phần tử cấu tạo nên thể vía luôn luôn luân lưu và di động rất nhanh, giống hệt như nước nấu sôi. Vì thế những phần tử của mỗi cảnh luôn luôn đi vào và rời khỏi lớp bề mặt, do đó con người bên trong lúc nào cũng có thể thấy cảnh tượng và những thực thể sống, ở bất cứ cảnh nào. Lúc ban đêm, một người gặp bạn hữu ở cõi trung giới, họ sẽ thấy trọn vẹn thể vía của người bạn ấy, giống hệt như là hắn ở cõi trần.

Nhưng nếu khi con người chết, chất liệu của thể vía bị tinh chất dục vọng sắp xếp thành từng lớp vỏ đồng tâm, thì chỉ những phần tử thôcủa cảnh giới thấp là ở ngoài bề mặt, do đó người ấy chỉ có thể nhận thấy chất liệu cùng một loại với nó, tức là chỉ thấy được những sự vật chung quanh không tốt lành của cảnh giới thấp nhất ấy. Nếu người ấy gặp một người bạn, họ không thể thấy trọn vẹn bản tính của người bạn, mà chỉ thấy những đặc tính của người bạn được biểu lộ qua chất liệu thô kệch, như vậy tức là chỉ thấy được những phần xấu nhất trong bản chất của hắn, như: dục cảm, hèn hạ, ghen tuông, nóng nảy… nếu người bạn đó có những tính xấu ấy trong người. Nhưng nếungười bạn ấy đã chết một thời gian, bỏ được những tính xấu kể trên và thể vía không còn chứa chất liệu thô kệch nữa, thì người có thể víađãbị sắp xếp không thể thấy được người bạn đã dứt bỏ được những đặc tính xấu xa kia.

Khi vị cứu trợ vô hình đến phá vỡ những lớp vỏ đồng tâm và tái lập sự luân lưu cho người vừa mới đến cõi trung giới, thì họ sẽ có thể thấy được toàn thể cõi trung giới và gặp lại những bạn bè thân thuộc đã đến trước ở cõi trung giới một thời gian lâu. Tóm lại là không nên để cho tinh chất làm công việc sắp xếp lại thể vía.

Cũng có thể một người chết còn quá lưu luyến với cảnh trần gian, vì lo lắng về những phận sự mà họ đã bỏ dở, hoặc những mối nợ chưa trả xong, nhưng thường hơn hết là vì vợ con còn sống ở cõi trần không kế sinh nhai. Muốn cứu trợ trong những trường hợp như thế cần phải làm nhiều phần việc hơn. Trước khi dìu dắt người chết để họ tiếp tục trên đường tiến bộ một cách yên ổn, vị cứu trợ còn phải thay mặt họ trong một phạm vi nào đó ở cõi trần để lo giải quyết công việc mà họ đang bận tâm lo lắng. Câu chuyện vừa mới xảy ra được trình bày sau đây có lẽ sẽ làm rõ vấn đề hơn.

Một sinh viên trong nhóm đã cố gắng giúp đỡ một người nghèo vừa mới chết ở một thành phố thuộc miền tây nước Anh. Người nầy khôngthể dứt bỏ tư tưởng trần gian được, vì quá lo lắng cho hai đứa con thơ bị bơ vơ không người chăm sóc. Lúc còn sống, anh làm thợ, nhưng không dành dụm được tiền bạc để lại cho con. Vợ anh đã chết hai năm trước, bà chủ nhà của anh là người có lòng nhân từ, sẵn sànglàmhết sức mình để giúp đám trẻ, nhưng vì quá nghèo, nên nuôi dưỡng chúng nó không nổi nữa, cho nên bất đắc dĩ, bà dự định giao chúngnó lại cho các chức sắc giáo khu. Đó là một mối lo buồn lớn cho người cha đã chết, nhưng không thể phiền trách gì được bà chủ, và cũngkhông thể đề nghị cách nào khác được.

Người bạn của chúng ta hỏi ông còn có một thân nhân nào để có thể ký thác các con chăng? Nhưng ông không biết ai cả. Ông nói rằng, ông có một người em trai, chắc sẽ giúp đỡ cho ông được trong cảnh khốn khổ nầy, nhưng người em đã đi biệt dạng từ 15 năm nay, vàkhông rõ bây giờ nó còn sống hay đã chết. Lần chót, ông nghe tin nó ở miền bắc, đang học nghề thợ mộc, và người ta nói rằng nó là một thanh niên đứng đắn, nếu nó còn sống, chắc đã nên nhà nên cửa rồi.

Lời chỉ dẫn thật quá lờ mờ, nhưng dường như việc cứu giúp đám trẻ không thể nhờ nơi nào khác được, và người bạn của chúng ta nghĩ là phải cố gắng theo dấu tích nầy. Anh dẫn người chết đi đến thành phố nơi người em cư ngụ, và sau nhiều khó khăn, họ đã gặp được người em. Người nầy, bây giờ là một thợ mộc chánh rất thành công trong nghề. Anh ta đã có vợ, nhưng không con, nên khao khát muốn có con, như thế, đúng là người lý tưởng cho trường hợp nầy.

Vấn đề bây giờ là phải làm cách nào để đưa được tin tức người chết đến cho người em. May thay, người thợ tỏ ra cũng nhậy cảm, nên trong giấc chiêm bao có thể trình bày rõ ràng cho anh biết về cái chết của người anh, cùng nỗi khốn khổ của mấy đứa con. Giấc chiêm bao được lặp lại luôn ba lần, chính tên họ của bà chủ nhà cũng được chỉ rõ ràng. Bị cảm kích sâu xa bởi giấc mơ bền dai nầy, anh cẩn thận bàn luận với vợ, người vợ khuyên anh nên viết thơ về địa chỉ được chỉ dẫn trong giấc mơ. Ý kiến ấy không làm cho anh vui lòng, trái lại anh rất muốn đi về miền tây để biết chắc có một cái nhà giống như anh đã thấy trong giấc mơ chăng. Nhưng vì quá bận nhiều việc, nên cuối cùng anh quyết định là không để mất một ngày công, vì những ý tưởng từ một giấc mơ.

Phương pháp nầy không được thành công, nên cần thực hiện phương pháp khác. Một vị trong nhóm cứu trợ viết thư ngay cho anh thợ mộc, thuật tỉ mỉ cái chết của người anh, và hoàn cảnh của các con đúng như sự việc đã trình bày trong giấc chiêm bao. Khi tiếp được thư xác nhận việc nầy, người em không còn do dự nữa, xếp đặt qua ngày hôm sau đi đến thành phố được chỉ dẫn và được bà chủ nhân từ ân cần tiếp rước. Các vị cứu trợ dễ dàng khuyên chị đàn bà trung hậu nầy giữ mấy trẻ nhỏ thêm ít ngày nữa để chờ người giúp đỡ chúng nó đến, và chị rất sung sướng về việc thiện chị làm. Kết cuộc, người thợ mộc tới dắt mấy đứa trẻ đi, cho chúng nó một mái gia đình êm ấm, hạnh phúc. Người cha đã từ trần không còn lo lắng phiền muộn nữa và vui vẻ tiếp tục con đường tiến bộ.

Một số học giả Thông Thiêng Học đã nhấn mạnh về sự có hại của những buổi chiêu hồn thuật, nhưng phải công nhận rằng đôi khi cũng có được kết quả tốt như trường hợp kể trên, nếu nhờ một đồng tử làm trung gian hoặc một vị phụ tá. Chỉ một số ít trường hợp người chết có thể tự hiện hình để tiếp xúc, bày tỏ ý muốn, nhưng những trường hợp nầy rất hiếm. Phần đông các linh hồn bị kẹt lại, vì lo lắng những sự việc chưa giải quyết được ở trần gian, phải nhờ phương tiện đồng cốt để liên lạc với cõi trần, hoặc nhờ sự giúp đỡ của một vị cứu trợ.

Một trường hợp khác rất thường xảy ra ở cõi trung giới, là người ta không chịu tin là mình đã chết. Thường khi người chết thấy mình còn đầy đủ ý thức, nên coi đó như là một bằng chứng tuyệt đối xác nhận rằng họ chưa đến cửa tử. Khi người ta có ý nghĩ như vậy là làm giảm mất giá trị thiết thực của tín ngưỡng tốt đẹp của chúng ta về một linh hồn bất diệt. Dầu nhãn hiệu của họ mang lúc còn sống là gì đi nữa, phần đông thái độ của người chết tỏ ra là họ vốn duy vật. Thật ra đối với những người lúc còn sống đã thành thật nhận mình là duy vật, nhiều khi còn biết lắng nghe lời giải thích hơn là những người mà lúc còn sống đã chối từ khi bị gọi là duy vật.

Một khoa học gia thấy mình vẫn đầy đủ ý thức, và đồng thời theo được dễ dàng những điều kiện hoàn toàn khác với những kinh nghiệmđã qua của ông, nên tin tưởng là ông vẫn còn sống, và chỉ là nạn nhân của một giấc mộng lâu dài, khó chịu. May thay, ông gặp được con trai của một người bạn già, là người đang hoạt động trong nhóm cứu trợ. Anh thanh niên nầy vâng lời cha đi tìm nhà khoa học đã chết để tìmcách giúp đỡ cho ông. Sau một lúc khó khăn, anh đã tìm được và đến gần gũi người chết. Ông nầy thú thật rằng ông lạ nước lạ nonvà không được yên tâm, nhưng ông vẫn bám chặt một cách thất vọng vào giả thuyết rằng đây chỉ là một giấc mộng, ông cho đó là cách giải thích có thể chấp nhận được về những gì ông đã thấy. Đến nỗi ông tin rằng người khách đến viếng thăm cũng chỉ là người trong mộng!

Cuối cùng, nhà khoa học nhượng bộ bằng cách đề nghị một cuộc thí nghiệm và nói với anh thanh niên: “Nếu em là một người còn sống như lời em xác nhận, và là con của người bạn già của tôi, thì hãy đem cho tôi vài lời nhắn của người, để chứng tỏ em là người thật sự ở trong thể vía, chớ không phải ảo ảnh.” Trong những trường hợp bình thường, thì đệ tử của Chân Sư bị cấm ngặt, không được phép trình bày một chứng cớ có tính cách phi phàm, nhưng trường hợp nầy, có thể được xem như ngoại lệ. Sau khi được sự đồng ý của cấp trên, anh thanh niên trình bày ý muốn của nhà khoa học cho cha, và được cha trả lời liền bằng một bức thư, trong đó ghi lại một số sự việc xảy ra trước khi sanh đứa con trai của ông. Điều nầy thuyết phục được người chết tin là người bạn thanh niên không phải là ảo ảnh, và cõi trung giới mà họ đang cùng sinh hoạt cũng là thật. Khi điểm nầy đã được xác định, những thói quen khoa học của ông lại nổi lên và ông tỏ ra rất nóng lòng muốn thâu thập tất cả các dữ kiện có thể được nơi cõi mới nầy.

Đã đành bức thư được nhà khoa học chấp nhận dễ dàng và xem như một bằng chứng, nhưng thật ra nếu muốn, bức thư có thể được ngụy tạo dễ dàng, vì tất cả những người có khả năng sử dụng những giác quan của thể vía đều có thể đọc được các sự việc xảy ra trước kia ngay từ trong tư tưởng của ông, hoặc từ “tiên thiên ký ảnh.” Nhưng nhà khoa học nầy không biết về sự kiện ấy, cho nên ông có sự tin tưởng tuyệt đối. Từ đây, giáo lý Minh Triết Thiêng Liêng mà người bạn trẻ chỉ dẫn cho ông mỗi đêm, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng phi thường đến tương lai của ông, vì chẳng những nó làm thay đổi lớn lao trạng thái thiên đàng sắp tới của ông mà còn trong kiếp tái sinh của ông ở trần gian.

Như chúng ta đã thấy, công tác chánh của nhóm cứu trợ đối với những người mới chết là trấn tĩnh họ và làm cho họ cảm thấy an lòng. Khi nào có thể được thì lo giải trừ cho họ khỏi mối sợ hãi ghê gớm, phi lý thường hay xâm chiếm con người, chẳng những gây nên những thống khổ vô ích mà lại còn làm cho họ trễ nải bước đường tiến lên các cõi cao hơn. Cuối cùng là làm cho họ hiểu biết càng nhiều càng tốt về tương lai sắp đến của họ.

Một thí dụ công việc của bản thân tôi, mỗi đêm tôi phải đi thăm rất nhiều người đã chết. Trong khi đó, những người mới chết càng ngày càng tăng. Tâm trạng đặc biệt của người chết là họ rất dễ bị kích động, lo lắng, giống như trẻ em bị để trong bóng tối. Khi nào bạn còn ngồi bên cạnh em, nắm tay em thì em cảm thấy an toàn và hạnh phúc, nhưng khi bạn rời bỏ em trong bóng tối thì em trở lại nhút nhát, sợ sệt, cho nên bạn cần ngồi bên cạnh em, nắm tay em cho đến khi em ngủ yên. Tâm lý của người mới chết cũng tương tự như thế. Có một bà cụ đã chết rất nhút nhát, cứ phập phòng lo không biết lúc nào mặt đất sẽ nứt ra và ném bà vào địa ngục. Bà chỉ được an tâm khi nào tôi còn đứng bên cạnh bà, nhưng đến khi tôi bỏ đi thì bà lại bắt đầu sợ, và còn nghĩ rằng có phải tôi là yêu quái giả dạng chăng. Cho nên tôi phải săn sóc bà như săn sóc các trẻ em, trong lúc tôi không có mặt, tôi phải xếp đặt một người khác săn sóc bà. Một vị tân đoàn viên vừa mới gia nhập nhóm làm việc ở cõi trung giới có thể không biết phải xử trí thế nào trong những trường hợp khó khăn, nhưng vị ấy có thể ngồi bên cạnh bà cụ để cho bà yên lòng, và kể cho bà nghe những chuyện về cuộc sống mới. Chỉ cần sự hiện diện của anh ta, và dĩ nhiên là anh ta phải có vẻ ung dung, bình tĩnh, đó là cách thức để làm cho người chết yên tâm. Nếu vị cứu trợ tỏ vẻ bồn chồn lo lắng thì người chết cũng lập tức cảm thấy sợ hãi.

Tôi thường đem theo một số những người mới gia nhập nhóm trong lúc đi làm công việc hằng đêm để cho họ quen với công việc. Thí dụ như đối với trường hợp người đàn bà quá sợ sệt, tôi sẽ nói với bà: “Không có gì phải lo; chúng tôi có thể giúp gì được cho bà? Tôi thông cảm với bà, nhưng tôi bảo đảm rằng bà sẽ thấy an tâm hơn, bây giờ bà nên kể hết cho tôi biết về những gì bà cảm thấy.” Rồi tôi quay sang một trong những vị tân đoàn viên, tôi nói: “Ồ! Cô …, cô có thể hầu chuyện với bà đây một lúc được không?”

Kế đó, chúng tôi đi giúp một trường hợp khác, và để lại vị tân đoàn viên với bà, đến khi tất cả những vị tân đoàn viên đều có phần việc của mình. Rồi thì một số tân đoàn viên trở lại, sau khi thi hành xong bổn phận. Bằng cách đó, họ có thể học cách thức tự mình làm việc. Đến khi nào họ cảm thấy đầy đủ tự tin, họ sẽ có thể tự quyết định một mình. Rồi đến lúc họ sẽ được nhận lãnh công việc chính thức của một vị cứu trợ đúng nghĩa.

Những người đã lưu trú ở cõi trung giới lâu ngày cũng có thể được trợ giúp hữu hiệu qua những giai đoạn khác nhau, nếu họ chấp nhận những lời giảng giải và khuyên bảo. Thí dụ họ có thể được báo cho biết về sự nguy hiểm và chậm trễ trên đường tiến hóa, nếu họ tìm cách liên lạc với người còn sống qua trung gian của đồng cốt. Rất hiếm người đi vào thần linh học được thúc đẩy đến một đời sống cao hơn và chánh đáng hơn. Giáo lý được chỉ dạy ở cõi trung giới không bao giờ mất, cho dù ký ức nầy không được trực tiếp chuyển lại kiếp kế tiếp, nhưng sự hiểu biết chân thực bên trong vẫn còn mãi mãi và con người sẽ có khuynh hướng chấp nhận một cách dễ dàng khi gặp lại giáo lý nầy trong một kiếp sống mới khác.

Sau đây là câu chuyện của một tân đoàn viên vừa mới gia nhập nhóm, lần đầu tiên thành công trong công việc giúp đỡ người chết. Trước đây ít lâu, người chí nguyện trẻ trung nầy có một bà thân quyến lớn tuổi mà anh rất thương yêu đã chết. Điều yêu cầu đầu tiên của anh là được hướng dẫn bởi một người bạn có kinh nghiệm hơn để đi tìm bà ấy, với hy vọng giúp đỡ bà. Cuộc gặp gỡ giữa kẻ sống và người chết thật là tốt đẹp và cảm động. Bà cụ đã gần mãn hạn cuộc sống ở cõi trung giới, nhưng tâm trạng lãnh đạm, trì trệ và lưỡng lự, làm cho bà không tiến bộ mau được.

Cậu thanh niên vốn đã được bà thương mến trước đây, lúc còn sống, nay trở lại gặp bà, đem những tia sáng tình thương, làm tiêu tan sương mù phiền muộn đã tụ tập chung quanh bà và làm cho bà được thức tỉnh. Phúc chốc, bà hiểu rằng cậu trẻ đến để giải thích cho bà biết về cảnh trạng của bà và nói về vẻ đẹp rực rỡ của đời sống cao thượng, mà tư tưởng và nguyện vọng của bà từ đây phải hướng về đó. Vừakhi hiểu rõ các điều ấy, thì cảm giác tiềm ẩn trong lòng bà được đánh thức, để lộ ra một niềm thân ái tràn trề sâu xa đối với người bạn trẻ. Những sợi dây cuối cùng đang ràng buộc bà vào đời sống trung giới được phá hủy, rồi tình thương cùng sự tri ân bộc phát, đưa bà đi đếntận tâmthức cao siêu của cõi thiên đàng. Thật là trong vũ trụ không có quyền năng nào to lớn và hữu ích hơn một tình thương trongsáng, không ích kỷ.

***

Tổng hợp sách trong Thư viện trái đất 

Facebook page

ĐỂ LẠI NHẬN XÉT

Please enter your comment!
Please enter your name here