NHÃN THÔNG – CHƯƠNG 9: PHƯƠNG PHÁP KHAI MỞ (Kết thúc)

0
117

CHƯƠNG IX

PHƯƠNG PHÁP KHAI MỞ

(Methods (Methods (Methods (Methods of development) development) development) development)

Một người bắt đầu tin tưởng vào giá trị thực tiễn của năng lực nhãn thông, câu hỏi đầu tiên của họ thường là: “Trong trường hợp cánhân tôi, tôi có thể làm cách nào để khai mở quan năng mà người ta nói là còn tiềm ẩn trong mọi người?”

Có nhiều phương pháp để khai mở năng lực này, nhưng chỉ có một phương pháp khá an toàn thường được khuyến khích, chúng ta sẽ nói đến sau. Trong các nước kém phát triển trên thế giới, hiện tượng linh thị được phát sinh theo nhiều đường lối khách quan khác nhau. Dân tộc thiểu số trong vài bộ lạc ở Ấn Độ thường dùng các loại dược thảo độc hại hoặc hít khói thuốc gây mê. Một sốcác giáo sĩ Hồi Giáo dùng cách quay cuồng theo một điệu vũ điên loạn do sự hăng say tín ngưỡng, cho đến khi chóng mặt và hôn mê. Những người theo nghi lễ tà thuật, thực hành những cách thức gớm ghiếc như giết sinh vật để cúng tế, và các nghi thức đáng ghê tởmcủa tà đạo. Ở những nước văn minh, những phương pháp này không thịnh hành, tuy nhiên có một số lớn người còn theo những kỹ thuật cổ xưa, như tự thôi miên bằng cách nhìn chăm chú vào một điểm sáng, hoặc lặp đi lặp lại vài cách thức nào đó cho đến khi rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Trong khi có một trường phái khác cố gắng đạt tới các kết quả tương tự bằng cách điều hoà hơi thở theo một vài hệ phái Ấn Độ.

Người ta khuyến cáo nghiêm nhặt rằng tất cả những phương pháp đó đều không an toàn cho người bình thường, mà họ không biết rõ họ đang làm gì, họ chỉ làm thí nghiệm một cách mơ hồ trong một thế giới mà họ chưa biết. Tôi cũng không khuyến khích phương pháp cho người khác thôi miên mình để đạt được nhãn thông; không bao giờ nên thử nghiệm phương pháp này, ngoại trừ dưới những điều kiện đáng tin cậy hoàn toàn, và có sự liên hệ mật thiết giữa người thôi miên và người bị thôi miên, cùng sự trong sạch hoàn toàn trong trái tim và linh hồn, trong tư tưởng và ý hướng, điều này chỉ có thể có được nơi các bậc Thánh.

Trong số những cách thức khác, những thực nghiệm xuất thần do thôi miên là đáng chú ý nhất. Nó đưa ra những bằng chứng vềsựkiện nhãn thông cho người theo thuyết hoài nghi. Tuy nhiên, cần phải có các điều kiện như đã đề cập ở trên, và điều này gần nhưkhông thể thực hiện được, tôi không bao giờ khuyến khích bất cứ ai theo đuổi phương pháp này.

Phép thôi miên dùng chữa bệnh (mà không cần đưa bệnh nhân vào trạng thái xuất thần, cố gắng để làm nhẹ bớt cơn đau, trị lành bệnh, hoặc truyền sinh lực bằng nhân điễn) có chỗ đứng hoàn toàn khác. Với điều kiện rất cần thiết là chính người thực hành thôi miên phải khoẻ mạnh, có dụng ý trong sạch,được vậy sẽ không gây hại cho bệnh nhân. Trường hợp rất đặc biệt là một người có thểtình nguyện để cho người khác thôi miên trong một cuộc giải phẫu chữa bệnh. Nếu có người hỏi ý kiến tôi về vấn đề này, tôi mạnh dạn khuyến cáo họ không nên giao mình cho người khác làm thí nghiệm, trừ khi họ hoàn toàn thật hiểu mọi khía cạnh về vấn đề này; tốt nhất là họ được sự hướng dẫn bởi một bậc thầy có khả năng.

Nhưng tìm đâu được một bậc thầy có đầy đủ khả năng? Chắc chắn đó không phải là những người tự quảng cáo mình là đạo sư, dạy các bí pháp linh thiêng để kiếm tiền. Hoặc những người mở “câu lạc bộ” để dạy khai mở quan năng tâm linh, và thâu nhận đơn xingia nhập của bất cứ người nào, càng nhiều càng tốt.

Trong bài bình luận này, chúng tôi đã nói rất nhiều về nhu cầu của việc huấn luyện thận trọng, và những điều lợi ích của loại nhãn thông đã được huấn luyện, nhưng một lần nữa, câu hỏi được nêu ra: người ta có thể tìm được việc huấn luyện thận trọng này nơi đâu?

Câu trả lời là: từ lúc bắt đầu có lịch sử thế giới, người ta luôn luôn tìm được sự huấn luyện này nơi Đại Đoàn Chưởng Giáo. Những vị này đến bây giờ vẫn tồn tại, và sẽ luôn luôn tồn tại để làm nền tảng cho sự tiến hoá của nhân loại, cũng như hướng dẫn và trợgiúp con người sống theo đại luật vũ trụ, đại luật này tượng trưng cho ý chí của đấng Trường Cửu. Nhưng làm cách nào để gần gũi được những vị trong Đại Đoàn Chưởng Giáo? Người chí nguyện khát khao sự hiểu biết, làm cách nào để bày tỏ lòng mong mỏi nhận được những giáo huấn?

Chỉ có một phương pháp là “chờ đợi”, không có đặc quyền cho bất cứ ai được những vị cao cả thu nhận, nếu chính người đó chưa chuẩn bị xứng đáng làm đệ tử, con đường học hỏi ấy không phải là con đường của bậc vương giả. Trong thời đại hiện tại, cũng như trong những thời đại cổ xưa, người nào muốn thu hút sự chú ý của những vị cao cả đều phải bước vào con đường khó khăn, gian khổ, tự học hỏi để tự hiểu mình, và tự làm tất cả điều gì mà họ phải làm để phát triển. Những giai đoạn củacon đường đó không có gì bí mật, tôi có viết đầy đủ chi tiết về các điều này trong quyển “Những vị cứu trợ vô hình” cho nên tôi không cần lặp lại nơi đây. Đó không phải là con đường dễ dàng, tuy nhiên sớm hay muộn tất cả mọi người đều phải đi theo, vì đại luật của cơ tiến hoá sẽ từ từ đưa nhân loại đi đến mục đích mà không ai cưỡng lại nổi.

Các Chân Sư chọn đệ tử trong số những người cố gắng bước vào đường đạo. Chỉ bằng cách tự tạo cho mình đủ phẩm chất, một người mới có thể nhận lãnh được những giáo huấn và đặt chân trên đường đạo. Không có phẩm chất ấy, bất cứ hội viên của chi bộhay xứ bộ nào, thuộc về bí truyền hay công truyền, có thể tiến đến được mục đích. Như chúng ta đều biết, khi Hội Thông Thiên Học được thành lập, thực sự có một số người được các vị Chân Sư thâu nhận, và trong số đó có vài người được lựa chọn để tiếp xúc chặt chẽ với các Ngài. Sự lựa chọn đó tuỳ thuộc vào sự chân thành của thí sinh, chứ không phải chỉ vì họ là hội viên của Hội hay của bất cứ bộ phận nào của Hội.

Đó là cách duy nhất, an toàn tuyệt đối cho sự khai mở quan năng nhãn thông, để con người bước vào con đường tiến hoá về đạo đức và tâm linh với tất cả năng lực của mình. Ở một giai đoạn nào đó trên đường đạo, quan năng này và những quan năng cao siêu hơn sẽ bắt đầu khai mở. Có một phương pháp được hầu hết mọi tôn giáo khuyến khích, phương pháp này nếu được theo đuổi một cách cẩn trọng và tôn kính sẽ rất an toàn cho người thực hành, và sẽ đưa đến sự phát triển loại nhãn thông rất thanh khiết: đó là sự thực hành tham thiền.

Mỗi ngày, hãy chọn một thời giờ nhất định mà chúng ta có thể tin chắc là yên tịnh và không bị quấy rầy, vào ban ngày thích hợp hơn ban đêm. Trong giờ phút đó phải giữ cho cái trí được hoàn toàn tự do trong một vài phút, không nghĩ đến bất cứ chuyện gì ở thế gian. Khi đạt được điều này, hãy hướng toàn thể sức mạnh tư tưởng đến một lý tưởng tâm linh cao siêu nhất mà chúng ta hiểu được.

Chúng ta sẽ thấy rằng kiểm soát được hoàn toàn tư tưởng là một điều vô cùng khó khăn, nhưng khi đã đạt được điều này sẽ có lợi íchrất lớn. Khi khả năng tập trung tư tưởng càng ngày càng mạnh hơn, chúng ta sẽ dần dần nhận thấy những thế giới mới mở rộng.

Khi sự tập luyện sơ khởi về tham thiền hoạch đắc được kết quả thoả đáng, chúng ta sẽ thấy thích thú trong việc thực tập định trí vàonhững công việc trong đời sống hàng ngày, cả đến những công việc nhỏ nhặt nhất. Khi viết một bức thư, chúng ta không nghĩ gì khác hơn ngoài bức thư đó cho đến khi viết xong. Nếu đọc một quyển sách, chúng ta không bao giờ để cho tư tưởng đi vơ vẩn, mà phải tập trung tâm trí vào ý tưởng của tác giả.Chúng ta phải học cách kềm giữ và kiểm soát cái trí, và phải làm chủ nó, đồng thời cũng phải kiểm soát các tình cảm thấp hèn. Chúng ta phải kiên trì cố gắng kiểm soát hoàn toàn tư tưởng, phải luôn luôn biết chắc chúng ta đang nghĩ về chuyện gì và tại sao để có thể sử dụng cái trí một cách hữu hiệu. Chúng ta phải điều khiển cái trí theo ý muốn và giữ nó thật yên tĩnh, giống như người thực tập kiếm thuật, xoay mũi kiếm về hướng nào mà họ muốn.

Khả năng nhãn thông thực sự sẽ mở ra cả một thế giới mới, một năng lực hữu dụng mới, và đó là lý do mà chúng ta cảm thấy nó có giá trị. Nhưng nên nhớ rằng, đối với một người có những bổn phận trong cuộc sống ở thế gian, điều này không có nghĩa là một ân phước hoàn toàn. Nếu nhãn quan này mở ra cho một người thấy sự buồn rầu và đau khổ, sự độc ác và tham lam của thế gian, đó là một gánh nặng triền miên đè lên họ. Trong những ngày đầu mà họ có được kiến thức này, họ thường cảm nhận những âm thanh vang dội như những lời nguyện cầu thống khổ chứa đựng trong các dòng thơ bằng tiếng Đức của thi sĩ Schiller, mà tôi tạm dịch đại ý như sau:

“Tại sao Ngài đưa tôi vào thành phố mù tối, và cho tôi biết những lời tiên tri của Ngài? Bức màn che những bóng tối được vén lên có lợi ích gì? Nó chỉ cho thấy sự sống vô minh, mà sự hiểu biết này là sự chết. Xin lấy lại nhãn quan ảm đạm này. Lấy lại ánh sáng độc ác khỏi mắt tôi, sự thật quá khủng khiếp! Trả lại tôi sự mù lòa, bóng tối hạnh phúc của giác quan tôi. Hãy lấy lại món quà đáng sợ của Ngài!”

Nhưng dĩ nhiên cảm giác ấy sẽ qua đi, vì nhãn quan cao siêu hơn sẽ cho đệ tử cảm giác thanh thoát, nó sẽ mang lại cho linh hồn tràn ngập niềm tin vững chắc, cho thấy mọi sự việc đều cùng biểu hiện điều thiện, và không còn bóng dáng của sự hoài nghi. Họ biết được tội lỗi và đau khổ đều do họ, dù họ có nhận ra điều này hay không. Khi nhận thức được như thế, họ sẽ trợ giúp người khác cóhiệu quả hơn khi họ làm việc trong bóng tối, và tùy trình độ hiểu biết, họ chia xẻ nghiệp quả nặng nề của thế gian.

Khi may mắn có được một ít khả năng cao siêu này, một số người lầm lạc sử dụng nó vào các mục đích rất hạ tiện như việc tự quảng cáo mình là “người có linh thị kinh doanh”. Không cần phải nói, cách sử dụng quan năng như thế là một sự sỉ nhục và làm giảm giá trị của nó. Điều này cho thấy họ không may mắn sở hữu quyền năng trước khi họ phát triển bản chất đạo đức vững chắc. Trong một thời gian ngắn, những người ấy sẽ nhận lãnh những nghiệp quả xấu do hành động của họ.

Đôi khi người ta phản đối rằng năng lực nhãn thông xâm phạm sự riêng tư, vì nó ban cho con người khả năng vô hạn trong việc thấy tất cả những bí mật của người khác. Điều này cũng đúng và gợi ý rằng, nếu khả năng này có ở một người chỉ thích dùng nó trong việc giải trí mà không biết sự thực dụng của nó. Người phản đối năng lực này có lẽ muốn nói đến loại năng lực rất giới hạn của những kẻ quảng cáo kiếm tiền. Đối với người khai mở nhãn thông theo đường hướng có giáo huấn rõ rệt, và sở hữu hoàn toàn năng lực này, có ba sự kiện cơ bản được đặt ra: Thứ nhất, người sở hữu năng lực nhãn thông thật sự có trước mặt một chân trời xán lạn để khám phá, nghiên cứu, sẽ không còn chỗ cho sự ham muốn tìm hiểu những điều kín đáo nhỏ nhặt, vô vị của cá nhân người khác. Thứ nhì, nếu có xảy ra vấn đề, thường rất ít khi xảy ra, là họ thình lình thấy được vài điều nhỏ nhặt, tầm phào, không đoan chính của người khác, thì với danh dự của một người đứng đắn, họ sẽ không để ý đến sự việc ấy. Thứ ba, một vấn đề khác ít khi xảy ra hơn, là họphải đương đầu với vài loại thần linh hạ đẳng, nhưng thường trước khi phát triển khả năng này, người đệ tử đã nhận được giáo huấn đầy đủ về sự sử dụng cũng như những giới hạn của nó.

Tóm lại, những sự hạn chế này ngăn cản họ không được tò mò, không được dùng quyền năng một cách ích kỷ, và không phô trương các hiện tượng. Có thể nói những nguyên tắc áp dụng đối với hành động và cảm giác ngay thẳng trên cõi trần cũng phải được áp dụng trên cõi trung giới và thượng giới. Dù sao đi nữa, người đệ tử cũng không bao giờ được sử dụng khả năng này để đạt được những điều hiểu biết mang lại lợi lộc trần gian, và nhất là không được làm điều mà giới tâm linh thuật gọi là “trắc nghiệm tâm linh”, cũng như không được làm bất cứ điều gì để chứng minh cho những người theo thuyết hoài nghi ở thế gian tin có sự hiện hữu của năng lực siêu nhiên.

Về vấn đề này, người ta thường hỏi: “Tại sao họ không được hành động như thế? Nếu chứng tỏ được năng lực siêu nhiên, họ sẽdễ thuyết phục những người theo chủ nghĩa hoài nghi.” Trước hết, những người đưa ra thắc mắc như thế không thấy rõ sự kiện là, những người hiểu biết không muốn biện bác để thuyết phục, cũng như không quan tâm đến thái độ của những kẻ hoài nghi. Kế đến, theo quan niệm của những người hiểu biết, tốt hơn nên để cho những kẻ hoài nghi nhận thức dần dần những sự kiện của thiên nhiên, thay vì thình lình đưa ra những thuyết phục làm cho họ ngạc nhiên. Nhiều năm trước, vấn đề này đã được trình bày đầy đủ trong quyển “Thế giới huyền bí” của ông Sinnett, chúng ta không cần nhắc lại những dẫn chứng đã được đưa ra.

Một số người cảm thấy khó hiểu vì sao trong cuộc sống thực sự của người đệ tử không có chỗ cho những chuyện tán gẫu tầm phào, hay tò mò vô ích như đa số người vô tâm trên thế gian. Họ cũng nghĩ rằng dù không muốn, người có nhãn thông cũng có thể tình cờ thấy được những bí mật của người khác, như một người bất ngờ liếc thấy một câu trong bức thư của người khác để mở trên bàn. Dĩ nhiên chuyện này có thể xảy ra, nhưng đối với những người trọng danh dự, họ lập tức nhìn sang chỗ khác và coi như không thấy gì cả. Những người bài bác nên hiểu rằng không đệ tử nào có thì giờ để lo việc của người khác, trừ khi họ cần phải giúp đỡ một người nào đó trong phạm vi của họ, vì luôn luôn có rất nhiều công việc riêng sẵn sàng chờ đợi họ làm.

Tuy tôi chỉ nói một phần nhỏ những hạn chế đặt ra cho một đệ tử, cũng đủ cho thấy rõ rằng trong rất nhiều trường hợp, họ chỉ được nói rất ít so với những điều họ được biết. Trong một ý nghĩa sâu xa hơn, điều này cũng đúng đối với chính các vị Chân Sư cao cả. Do đó chúng ta hiểu tại sao những người có đặc ân thỉnh thoảng được gặp các Ngài, rất trân quí từng lời nói của các Ngài, dù đó chỉ là những lời nói thông thường, không phải là những giáo huấn trực tiếp. Vì ý kiến của một vị Chân Sư, hoặc của những vị đệ tử cao cấp của Ngài về bất cứ một vấn đề gì, đều chính xác và rõ ràng hơn rất nhiều so với những quan niệm của chúng ta.

Thực sự, địa vị và các quan năng cao cả của Chân Sư là di sản của tất cả nhân loại. Mặc dù hiện tại những năng lực này còn xa vời đối với chúng ta,nhưng một ngày kia chắc chắn chúng ta sẽ sở hữu chúng. Thế giới này sẽ ra sao nếu toàn thể nhân loại sở hữu khảnăng nhãn thông bậc cao! Lịch sử sẽ đổi khác, khi mà tất cả mọi người đều có thể đọc được những ký ảnh. Đối với khoa học, những gì trong hiện tại chỉ là lý thuyết, khi ấy có thể được nhìn thấy và chứng minh trọn vẹn. Về phương diện y học, lúc ấy bác sĩ cũng như bệnh nhân, đều có thể thấy rõ ràng và chính xác tất cả nguyên nhân cũng như sự trị liệu bệnh tật. Đối với triết học, khi ấy không còn cần thảo luận dài dòng về những vấn đề cơ bản, vì mọi người đều có thể thấy những phương diện thâm sâu hơn của chân lý. Đối với người lao động, tất cả mọi người đều làm việc vui vẻ, vì mỗi người đều được làm đúng công việc mà họ có thể làm tốt nhất. Trong ngành giáo dục, tâm và trí của trẻ con luôn mở rộng, thầy cô giáo thấu hiểu chúng, dễ dàng trong việc rèn luyện tính tình cho chúng. Trong tôn giáo, không còn có những cuộc tranh luận về tín điều, vì mọi người đều thấy được chân lý về các trạng thái sau khi chết và đại luật điều khiển thế gian.

Như thế, những người đã tiến hoá có thể giúp đỡ người khác dễ dàng hơn, trong những điều kiện rộng rãi hơn. Trí con người sẽ bừng sáng huy hoàng trải rộng khắp mọi hướng, do đó mà cuộc tuần hoàn thứ bảy của chúng ta sẽ là một thời đại hoàng kim thực sự. Điều tốt nhất cho con người là các quan năng cao siêu này được sở hữu bởi những người tiến hoá đến một trình độ cao về đạo đức cũng như về minh triết. Nếu không, tình trạng sa đoạ khủng khiếp giống như nền văn minh của người Đại Tây Dương Châu sẽ trở lại một lần nữa, do dân chúng của châu ấy không nhận thức được sự gia tăng quyền năng, có nghĩa là gia tăng trách nhiệm. Tuy nhiên phần đông chúng ta chính là những người ở châu ấy trở lại, hãy hy vọng rằng chúng ta đã học được bài học minh triết về sự thất bại đó, đến khi một lần nữa sự sống rộng lớn hơn mở ra trước mắt chúng ta, chúng ta sẽ xử sự tốt hơn.

***

Tổng hợp sách trong Thư viện trái đất 

Facebook page

ĐỂ LẠI NHẬN XÉT

Please enter your comment!
Please enter your name here