NHÃN THÔNG – CHƯƠNG 6: NHÃN THÔNG TRONG KHÔNG GIAN – KHÔNG CHỦ TÂM

0
90

CHƯƠNG VI

NHÃN THÔNG TRONG KHÔNG GIAN – KHÔNG CHỦ TÂM

(Clairvoyance (Clairvoyance (Clairvoyance (Clairvoyance in space – unintentional) unintentional) unintentional) unintentional)

Trong loại nhãn thông này, chúng ta có thể kể tất cả những trường hợp thấy được một cách bất ngờ biến cố xảy ra ở xa, hoàn toàn không có sự mong đợi, cũng như không có sự chuẩn bị trước. Có những người bẩm sinh được loại thị giác như thế, trong khi ở nhiều người khác, thị giác này chỉ xảy ra một lần trong suốt cuộc đời. Thị giác này có nhiều loại cũng như nhiều mức độ, và do nhiều nguyên nhân khác nhau tạo ra. Trong vài trường hợp, những nguyên nhân đó hiển nhiên, và rất quan trọng; ở những trường hợp khác, không có nguyên nhân nào cả, và những sự kiện xảy ra rất vụn vặt, tầm thường.

Đôi khi khả năng này xuất hiện trong lúc thức tỉnh, đôi khi là những giấc mơ sinh động và thường lặp đi lặp lại. Trường hợp sau làloại nhãn thông trong không gian thuộc nhóm thứ tư, khi ngủ con người thường du hành bằng thể vía đến một nơi nào đó do sự thu hút, hay thích thú. Trong trường hợp trước, có lẽ là loại nhãn thông thuộc nhóm thứ nhì, nhờ cách dùng luồng lưu chuyển trung giới. Nhưng trường hợp này, luồng lưu chuyển hay ống dẫn được tạo ra hoàn toàn vô thức, thường là kết quả tự động do một tư tưởng hay tình cảm mãnh liệt phát ra từ đầu này hoặc đầu kia, hoặc từ nhà linh thị hay người bị quan sát.

Cách đơn giản nhất là đưa ra một vài thí dụ về những loại khác nhau và thêm vào những loại cần thiết. Ông Stead đã sưu tập một số lớn những trường hợp mới, xác thực khác trong quyển “Chuyện ma có thật”; tôi sẽ chọn một vài thí dụ trong các câu chuyện này.

Các học giả Thông Thiên Học đều biết rõ loại nhãn thông đặc biệt do nhóm người mà chúng ta gọi là “Những vị cứu trợ vô hình” dùng để trợ giúp những người đang cần sự giúp đỡ. Một câu chuyện thuộc loại này do đại uý Yonnt kể lại cho tiến sĩ Bushnell về thung lũng Napa ở tiểu bang California, tiến sĩ Bushnell đã nhắc lại trong quyển “Thiên nhiên và siêu nhiên”.

‘Khoảng 6 hay 7 năm trước, một đêm giữa mùa đông, ông nằm mơ thấy một đoàn người di tản bị chận lại vì tuyết trên núi đổ xuống, và sắp chết vì bị đói khát và giá lạnh. Ông nhớ lại nơi xảy ra là mặt dốc đứng của một tảng đá trắng khổng lồ; ông thấy những người đàn ông chặt các ngọn cây nhô ra từ các vực sâu đầy tuyết, và ông nhận rõ nét mặt buồn nản, kiệt sức của họ.’

‘Ông thức giấc với ấn tượng sâu xa rõ ràng về giấc mơ, một lúc sau ông ngủ lại và mơ thấy giống như lần trước. Đến sáng, ông không thể nào xua đuổi giấc mơ đó ra khỏi trí. Tình cờ, ông gặp lại người bạn đi săn cũ, và kể lại câu chuyện này, khi nghe câu trả lời củangười bạn, ông có lòng tin chắc chắn hơn về cảnh tượng trong giấc mơ. Người bạn này đã có lần đến Sierra và đi qua truông thung lũng Carson, nói rằng có một chỗ tại truông này, giống như nơi xảy ra câu chuyện trong giấc mơ của ông.’

‘Do đó, ông lão nhân hậu này quyết định tập họp ngay một số đàn ông, với những con lừa chở mền và tất cả những vật dụng cầnthiết. Lúc đó, nhiều người hàng xóm cả cười về sự dễ tin này. Ông nói: “Dù thế nào tôi cũng phải làm điều này, vì tôi thực sự tin vàogiấc mơ của tôi.” Đoàn người đi vào vùng núi, cách truông thung lũng Carson khoảng 150 dặm (tương đương với 240 cây số). Khi đến nơi, họ tìm thấy một đoàn người di cư đang bị nguy khốn giống như trong giấc mơ, và cứu được một số người còn sống sót ra ngoài.’

Trong câu chuyện kể trên không cho biết đại uý Yonnt có thường thấy những linh ảnh hay không; dường như có một vị cứu trợ vôhình nào đó, quan sát thấy tình trạng tuyệt vọng của đám người di tản, nên đã cảm ứng người gần nhất, và thích hợp nhất (đó là đại úy Yonnt) và đưa thể vía ông này đến nơi xảy ra tai nạn, kế đó đánh thức ông dậy vừa đủ để ghi sâu vào ký ức ông quang cảnh nơi xảy ra tai nạn. Cách thức thứ nhì là, vị cứu trợ vô hình có thể sắp xếp một “luồng lưu chuyển trung giới” để vị đại uý nhìn thấy; nhưng có lẽ cách thức thứ nhất đã được sử dụng. Dù bất cứ cách thức nào, trong trường hợp này rõ ràng có một động cơ thúc đẩy từ vị cứu trợ vô hình.

Đôi khi “luồng lưu chuyển trung giới” có thể khởi động do một tư tưởng xúc động mạnh ở đầu kia của đường dẫn, điều này có thểxảy ra dù nhà tư tưởng không chủ ý. Trong câu chuyện mà tôi sắp trích dẫn, sự kết nối được tạo ra do vị bác sĩ thường nghĩ về bà Broughton, song ông không có ý định cho bà thấy điều gì ông đang làm trong lúc đó. Do đó, bà nhận thấy từ quan điểm của bà, mà không phải từ quan điểm vị bác sĩ truyền đạt, vì bà chỉ thấy lưng ông mà không nhận ra ông; câu chuyện này được kể lại trong bộ sách “Phương châm của hội khảo sát tâm linh” (quyển II, trang 160).

‘Một đêm vào năm 1844, bà Broughton thức giấc và đánh thức chồng dậy, bà nói với ông: có điều gì đó đã xảy ra rất khủng khiếp ở nước Pháp. Ông van xin bà hãy đi ngủ lại, không được quấy rầy ông. Bà quả quyết với ông rằng, bà không ngủ khi bà thấy những sự việc mà bà muốn nói với ông.’

‘Trước tiên là một tai nạn xe cộ, bà không thấy lúc xảy ra, nhưng chỉ thấy kết quả tai nạn: một cỗ xe bị gãy, có tiếng ồn ào, người ta đỡ một người lên và đưa vào một nhà gần nhất đặt nằm trên giường, mà bà nhận ra đó là quận công Orleans. Dần dần có nhiều người bạn tập họp xung quanh giường – trong số họ có nhiều thành viên thuộc gia đình hoàng tộc nước Pháp, hoàng hậu rồi đến quốc vương – tất cả đều im lặng và rơi nước mắt khi thấy rõ quận công đã chết. Một vị bác sĩ (mà bà chỉ có thể thấy cái lưng) đứng cúi mình trên người quận công, bắt mạch và bàn tay kia cầm cái đồng hồ. Kế đó, tất cả đều biến mất, và bà không còn thấy gì nữa.’

‘Sáng sớm, bà vội viết lại tất cả những gì mà bà đã thấy và gởi cho tờ báo của bà. Việc này xảy ra trước những ngày có điện tín, vàhai hoặc nhiều ngày trước khi tờ Thời Báo đăng cáo phó về sự từ trần của quận công Orleans. Một thời gian ngắn sau, bà đi thăm Paris và nhận ra chỗ xảy ra tai nạn, và điều này đã chứng thật về linh cảm của bà. Vị bác sĩ chăm sóc quận công là một người bạn cũ củabà, và khi ông đứng canh chừng bên giường bệnh trí ông luôn nghĩ đến bà và gia đình bà.’

Trường hợp khác thường xảy ra hơn, do sự xúc động mãnh liệt tạo nên một luồng lưu chuyển cần thiết, thường là một dòng tư tưởng hỗ tương trôi chảy không ngừng giữa hai đối tượng, một vài nhu cầu bất ngờ của một trong hai đối tượng sẽ cung cấp cho dòng lưu chuyển tạm thời này năng lực đối cực cần thiết, và tạo nên một loại “kính viễn vọng” cõi trung giới. Một thí dụ điển hình được trích dẫn từ quyển sách kể trên như sau:

‘Vào ngày 9 tháng 9 năm 1848, trong cuộc bao vây Mooltan, vị phụ tá trung đoàn cho biết tướng R. bị thương rất nặng, có thể nguy hiểm đến tính mạng. Nghĩ rằng mình sắp chết, nên tướng R. yêu cầu một trong các sĩ quan tuỳ tùng của ông, tháo chiếc nhẫn trên ngón tay ông và gởi về cho vợ ông, đang ở Ferozepore cách đó khoảng 150 dặm.

‘Vào đêm 9 tháng 9 năm 1848, vợ ông viết bức thư như sau: “Tôi đang nằm trên giường nửa thức nửa ngủ, tôi thấy rõ chồng tôi bị thương nặng được đem ra khỏi bãi chiến trường, tôi nghe ông ấy nói: “Hãy tháo chiếc nhẫn trên tay tôi và gởi về cho vợ tôi.” Trong suốt ngày hôm sau, cảnh tượng và tiếng nói ấy luôn luôn ám ảnh trong đầu óc tôi.’

‘Sau đó ít lâu tôi được tin từ tuớng L., vị sĩ quan đã đưa chồng tôi ra khỏi chiến trường cho biết chồng tôi bị thương nặng trong cuộc vây hãm nhưng vẫn còn sống sót; ông là người được chồng tôi nhờ tháo chiếc nhẫn đưa về cho tôi, điều này giống như điều tôi đãnhận thấy được trong đêm 9 tháng 9.’

Có một nhóm rất lớn loại nhãn thông ngẫu nhiên, không rõ nguyên nhân, thường hoàn toàn không có ý nghĩa, và nhà linh thị cũng không biết có sự liên hệ với bất cứ biến cố nào. Về nhóm này còn tuỳ thuộc vào một vài người thường có liên hệ đến phong cảnh mà họ đã thấy trước khi ngủ. Tôi trích dẫn một câu chuyện chính về kinh nghiệm thuộc loại này trong quyển “Những chuyện ma có thật” của ông W.T. Stead.

‘Tôi leo lên giường, nhưng không thể ngủ. Tôi nhắm mắt lại và chờ giấc ngủ đến, song thay vì ngủ, tôi lại thấy một số hình ảnh kỳlạ liên tục xuất hiện. Trong phòng không có ánh sáng, hoàn toàn tối om, tôi cũng nhắm mắt. Mặc dù trong bóng tối, nhưng bất chợt tôi tri thức thấy một cảnh đẹp lạ kỳ. Hình như có một vật sinh động nhỏ như một ngọn đèn, mà bây giờ tôi vẫn có thể nhớ lại cảnh đó nhưở trước mắt. Cảnh này là một phần của bờ biển, trăng chiếu lấp lánh trên những gợn sóng lăn tăn đang xô vào bờ, ngay trước mắt tôi có một con chuột chũi mình dài đang bơi xuống nước. Nó bơi giữa các tảng đá lởm chởm trồi lên khỏi mặt nước. Dọc theo bờ biển có vài ngôi nhà hình vuông thô sơ, không giống với những kiểu nhà tôi thường thấy. Phong cảnh yên tĩnh, với ánh trăng chiếu trên những gợn sóng lăn tăn, và tôi có cảm tưởng như đứng trước một phong cảnh thực.’

‘Cảnh rất đẹp, tôi nghĩ rằng nếu cảnh đó còn xuất hiện tiếp tục, tôi sẽ rất thích thú ngắm nhìn nó mà không bao giờ đi ngủ. Tôi hoàn toàn tỉnh táo, cùng lúc tôi thấy cảnh này, tôi nghe rõ từng giọt mưa rơi ngoài cửa sổ. Phong cảnh này thay đổi thình lình mà không có bất cứ lý do gì rõ ràng.’

‘Biển với ánh sáng trăng biến mất, thay vào đó tôi thấy bên trong một phòng đọc sách. Dường như ban ngày phòng này dùng làmphòng học, còn buổi chiều được sử dụng làm phòng đọc sách. Tôi thấy có một người đọc sách, giống một cách kỳ lạ với ông Tim Harrington mà không phải ông, người này cầm một cuốn tạp chí hay một quyển sách trên tay và cười. Đó không phải là hình ảnh mà làngười thật.’

‘Tôi thấy cảnh này như nhìn qua một ống dòm, thấy rõ mỗi cử động của những người, vật, và quang cảnh hoàn toàn xa lạ. Tôi nhìn không phải bằng mắt thường, đôi mắt không liên hệ gì đến sự thấy này, mà dường như bằng một giác quan khác trong đầu nhiều hơn là trong mắt. Đây là một kinh nghiệm nhỏ nhặt, nhưng nó cho phép tôi thông hiểu thế nào là nhãn thông hơn bất cứ một cuộc khảo cứu nào.’

‘Những hình ảnh đó không liên hệ với bất cứ điều gì, cũng không phải do sự gợi ý từ những gì tôi đang đọc hay nói chuyện; chúng đến một cách tự nhiên như tôi nhìn xuyên qua một tấm kính và thấy những gì đang xảy ra ở một nơi khác trên thế giới. Tôi đã liếc nhìn, rồi nó qua đi và kinh nghiệm này không còn lặp lại nữa.’

Ông Stead xem như đó là “một kinh nghiệm nhỏ nhặt, không giá trị”, điều này có thể đúng như vậy, khi được so sánh với những sựkiện quan trọng hơn. Nhưng chính kinh nghiệm nhỏ nhặt này có thể cho nhà linh thị một manh mối trong toàn bộ sự việc, và nhãn thông sẽ là một hiện thực sinh động. Người nào đã một lần có được kinh nghiệm này, sẽ có cơ hội tiếp xúc một phần nào với thế giới vô hình.

Những hình ảnh này rất rõ rệt, không phải chỉ là các phản ảnh tư tưởng của người khác; ngoài ra sự diễn tả chính xác chứng tỏ đólà do nhìn xuyên qua một “kính viễn vọng” trung giới. Trong trường hợp này, có thể ông Stead hoàn toàn vô thức khi tạo ra cho mình một dòng lưu chuyển trung giới; hoặc trường hợp xảy ra thường hơn là một vài thực thể có thiện cảm ở cõi trung giới thiết lập nócho ông, và làm cho những hình ảnh ở đầu kia ống dẫn xuất hiện liên tục.

***

Tổng hợp sách trong Thư viện trái đất 

Facebook page

ĐỂ LẠI NHẬN XÉT

Please enter your comment!
Please enter your name here