CÕI TRỜI CHÂN PHÚC – PHẦN MỞ ĐẦU: NHỮNG ĐẶC TÍNH TỔNG QUÁT

0
99

NHỮNG ĐẶC TÍNH TỔNG QUÁT

Có lẽ phương pháp gặp nhiều khuyết điểm nhất trong việc khảo sát đề tài quá khó khăn này là cố sử dụng đồng tử (in media res) để kiểm lại những gì mà một đệ tử hay một học viên đã được  huấn luyện, nhận thấy được lần đầu tiên nơi cõi thiên đàng. Tôi dùng danh từ đệ tử một cách rất  thận trọng, để chỉ một người đã được một trong những vị Chân Sư minh triết thu nhận. Trong số những đệ tử, có lẽ chỉ một ít người có thể đi vào vùng phúc lạc tuyệt diệu này với đầy đủ ý thức,  để khi trở về cõi vật chất còn nhớ được rõ ràng những điều mà họ đã thấy. Không có một “vong  linh” (spirit) tử tế nào từ cõi trên xuống, sử dụng một đồng tử chuyên nghiệp để kể lại các việc  tầm thường, không giá trị; cũng không một người có nhãn thông tầm thường nào có thể nâng  được tâm thức lên cao, mặc dù trong số ấy đôi khi có người lão luyện và thanh khiết nhất có thể vào được cõi đó, khi họ ở trong trạng thái xuất thần sâu xa thoát khỏi sự kiểm soát của những  nhà thôi miên. Ngay trong trường hợp này, họ chỉ kinh nghiệm được một cách mập mờ về niềm phúc lạc thâm sâu khó tả, thường bị nhuộm màu sâu đậm bởi đức tin về tôn giáo của họ. Sau khi chết, đến lúc nào mà linh hồn đã vào cõi này, sẽ không còn bị lôi kéo trở lại trần gian bởi  những tư tưởng đau buồn, luyến thương của những người thân và bạn bè, cũng như không bị thu hút bởi những buổi cầu hồn. Cho đến khi tất cả những năng lực tinh thần vận dụng trong kiếp  sống vừa qua đã được hoàn toàn phục hồi, một lần nữa con người sẵn sàng khoác lên một lớp  vỏ xác thân mới. Ngay khi có thể trở về tiếp xúc với cõi trần, linh hồn thiếu kinh nghiệm cũng  không thể kể lại ý niệm thực sự về cõi này. Như chúng ta đã biết, chỉ có những người có thể bước vào cõi đó với tâm thức tỉnh thức trọn vẹn, mới có thể di chuyển một cách tự do, cũng như  hấp thu được tất cả vẻ đẹp kỳ diệu nơi cõi thiên đàng. Tất cả điều này sẽ được giải thích đầy đủ,  khi chúng ta đề cập đến các cư dân trên cõi trời này.

MỘT CẢNH TRÍ LỘNG LẪY

Một nhà huyền bí học danh tiếng đã viết các điều sau đây từ ký ức của Ngài. Tôi không biết bản  văn này được viết từ lúc nào, nhưng hình như một bản dịch khác của đoạn văn được khai triển  thêm, xuất hiện trong quyển “Sự Nối Tiếp của Phật Kinh” (Catena of Buddhist Scriptures) của Beal.

”Đức Phật của chúng ta nói: Cách xa chúng ta vô số thế giới, có một nơi gọi là cực lạc quốc (Sukhavati). Cõi này được bao quanh bởi bảy vòng rào, bảy lớp màn rộng lớn, bảy hàng cây  báu chắn gió. Thánh địa này là nơi cư trú của các vị La Hán (Arhats), kế đến là các vị Bồ Tát  (Bodhisattvas), và được quản trị bởi các Đấng Như Lai (Tathagatas). Nó có bảy cái ao quý báu,  nước của các ao đều trong như thủy tinh như nhau, nhưng có 7 đặc tính và phẩm chất khác  nhau. Hỡi thiện tri thức, đó là cõi cực lạc (Devachan). Có loài hoa thiêng Udambara mọc rễ sâu  trong bóng tối ở mỗi cõi trần, và nở hoa cho những người nào đạt tới cõi này. Thật là hạnh phúc  cho người nào được sinh ra trong cõi phúc lạc đó, họ đã bước qua cầu vàng và đến 7 ngọn núi  vàng; không còn sự đau khổ, phiền muộn đến với họ trong chu kỳ này.”

Đoạn văn này, có nhiều ẩn ý trong lối nói bằng biểu tượng đẹp đẽ của người Đông phương.  Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy vài đặc tính chính khá rõ ràng đối với những người nghiên  cứu thời hiện đại. “Bảy ngọn núi vàng”, chỉ có thể là 7 cảnh của cõi thượng giới, mà giữa các  cảnh được ngăn cách bởi các lớp ngăn không thể chạm vào, nhưng là thực và có hiệu quả; đó là  “7 vòng rào, 7 lớp màn bao la, 7 hàng cây báu chắn gió”. Bảy loại nước trong như thủy tinh, mỗi  loại có đặc tính và phẩm chất phân biệt, tượng trưng cho những loại quyền năng khác nhau và trạng thái của tư tưởng kèm theo những quyền năng ấy. Trong khi có một đặc tính chung cho tất  cả, là sự phúc lạc thâm sâu, tuyệt diệu mà họ có thể cảm nhận. Quả nhiên, loài hoa của cõi này,  “rễ mọc sâu trong bóng tối ở mỗi cõi trần”; vì từ những thế giới khác nhau mà mỗi người bước  vào cõi trời tương đương; và hạnh phúc không có thứ ngôn ngữ nào diễn đạt được, là những nụ hoa bừng nở đối với người nào có thể đạt tới cõi này, tùy theo lối sống của họ. Họ phải “bước  qua cầu vàng”, qua khỏi dòng suối ngăn cách cõi thượng giới và cõi dục giới. Đối với họ, sự tranh  đấu giữa lý tưởng cao cả và những điều thấp hèn đã chấm dứt. Vì thế “trong chu kỳ trên cõi phúc  lạc này, họ không còn bị đau khổ hoặc phiền muộn nữa”. Họ vui hưởng hạnh phúc nơi đây cho  đến ngày họ luân hồi xuống cõi trần, khi ấy, một lần nữa họ phải rời bỏ cõi trời chân phúc này.

SỰ CHÍ PHÚC NƠI CÕI THIÊN ĐÀNG

Cường độ hạnh phúc là ý niệm quan trọng đầu tiên, dùng làm nền tảng cho tất cả những nhận  thức của chúng ta về cuộc sống nơi cõi thiên đàng. Chúng ta đang nói về một thế giới, mà chính  trong cấu trúc của nó không chứa chấp được những sự xấu, ác và thống khổ. Không những  trong thế giới đó mọi loài đều hạnh phúc, mà trong thực tế còn tốt đẹp hơn nhiều. Đó là một cõi  mà những thực thể hiện hữu đang vui hưởng chân hạnh phúc tinh thần cao siêu nhất. Một thế giới có thể đáp ứng lại mọi nguyện vọng cao cả của con người, hạnh phúc này chỉ bị giới hạn bởi  khả năng ước vọng của con người đến được mức độ nào.

Nơi đây, lần đầu tiên chúng ta bắt đầu nhận thức được vài điều về bản chất thực sự của Nguồn  Sống vĩ đại. Lần đầu tiên chúng ta sẽ thoáng thấy từ xa thế nào là đức Thượng Đế (Logos), và  hiểu được Ngài muốn chúng ta phải như thế nào. Kinh ngạc trước sự thực kỳ diệu nơi cõi thượng  giới, và với sự hiểu biết chân lý này, sự sống đối với chúng ta không còn giống như trước nữa.  Chúng ta không thể không ngạc nhiên về sự vô vọng không hợp lý của người cõi trần đối với  quan niệm hạnh phúc. Thật vậy, chúng ta buộc phải nhìn thấy phần đông người ở trần gian có  quan niệm đảo điên vô lý, cũng như không ý thức rõ rệt; và họ thường quay lưng đối với chính  mục đích mà họ đang tìm kiếm. Nhưng cuối cùng nơi đây, chân lý và mỹ lệ vượt qua tất cả những  điều mà thi nhân mộng tưởng. Ánh sáng huy hoàng, tuyệt diệu của cõi này làm cho tất cả những  sự vui thú khác trở nên tầm thường, mờ nhạt, không thực tế và không thể nào làm cho con người  thỏa mãn.

Chúng ta sẽ cố gắng làm sáng tỏ một vài chi tiết về vấn đề này ở những phần sau; bây giờ,  chúng ta cần nhấn mạnh về cảm giác sáng chói nơi cõi này. Cảm giác này có được không phải  chỉ do sự vắng bặt những điều xấu ác và mâu thuẫn, mà vì đó là một niềm vui trọn vẹn, tràn đầy,  không thay đổi. Đó là cảm giác đầu tiên nổi bật, mà người đã vào cõi thiên đàng đều có kinh  nghiệm; cảm giác này vẫn tồn tại cho đến khi nào người ấy vẫn còn ở đó. Khi người ấy có nhiều  kinh nghiệm hơn về những khả năng của thế giới mới mà họ đang sống, năng lực tinh thần của  họ được nâng cao hơn nhiều, và họ có thể thực hiện bất cứ điều gì. Người ở nơi cõi ấy cảm  nhận được một niềm hạnh phúc lạ lùng khó tả; cảm giác này đến một cách tự nhiên và ở mãi với  họ khi họ còn hiện diện nơi cõi này. Niềm vui tuyệt vời của những người khác cũng là nguồn vui  của chính họ. Ở cõi trần không có điều gì giống như thế, cũng không có hình ảnh nào có thể tượng trưng cho điều đó. Theo quan niệm tâm linh của chúng tôi, giả sử đời sống vui thú trong  thời thơ ấu được mang lên cõi thiên đàng, và tăng cường độ hạnh phúc lên nhiều ngàn lần, có lẽ sẽ gợi ý một cách lờ mờ vài ý tưởng về sự phúc lạc nơi cõi ấy. Sự so sánh này không đầy đủ để diễn tả một cõi mà sinh lực tâm linh rất phi thường như cõi trời này.

Loại sinh lực mãnh liệt này biểu lộ do sự rung động cực nhanh của các phân tử và nguyên tử chất liệu cõi thượng giới. Theo lý thuyết, chúng ta đều biết ngay tại cõi trần không có bất cứ một  phần tử vật chất nào, dù là phần tử cấu tạo nên phần đậm đặc nhất của những chất đặc, mà có  lúc bất động. Tuy nhiên, khi chúng ta có thần nhãn, khái niệm này không còn là một lý thuyết  khoa học đơn thuần, mà nó trở thành một sự kiện thực sự luôn hiện hữu. Chúng ta sẽ nhận biết  được một cách thâm sâu đặc tính đại đồng của sự sống, mà trước kia chúng ta không nhận ra  được. Chân trời trí tuệ của chúng ta rộng mở, chúng ta bắt đầu thoáng thấy những điều kỳ diệu  của thiên nhiên, mà đối với người bình thường những điều đó chỉ giống như những giấc mộng  điên cuồng.

Bạn hãy thử tưởng tượng hiệu quả phát sinh trong trí một người quan sát, sau khi họ rời bỏ cõi  trần để nghiên cứu tỉ mỉ sự sống linh hoạt và những rung động nhanh nơi cõi trung giới. Khi ấy họ sẽ thấy có một giác quan mới tuyệt diệu mở ra bên trong, làm cho họ nhìn thấy được một thế giới  khác còn cao hơn nữa, và nơi cõi đó những tầng số rung động còn nhanh hơn; cũng như ở cõi  trần, những rung động của ánh sáng nhanh hơn những rung động của âm thanh. Ở thế giới đó,  sự sống hiện diện khắp nơi như nhịp đập không ngừng với những cấp độ khác nhau nhưng  tương hợp nhau, chung quanh và bên trong quan sát viên; và năng lực sống càng được nâng  cao vô cùng.

MỘT PHƯƠNG PHÁP NHẬN THỨC MỚI

Cảm giác mà người ở cõi ấy nhận thức được, không do sự kỳ diệu của cõi trời này; mà do họ không còn bị giới hạn trong sự nghe, thấy, hoặc cảm nhận bằng những cơ quan riêng rẽ như ở cõi trần. Sự nhận thức này cũng không phải do sự nới rộng vô hạn của khả năng thấy và nghe  như ở cõi trung giới. Thay vì những khả năng này, họ cảm thấy có sự hiện diện bên trong họ một  quyền năng mới lạ, nó không phải là bất cứ khả năng riêng rẽ nào được đề cập ở trên, nhưng  bao gồm tất cả những khả năng ấy và còn nhiều hơn nữa. Khi có sự hiện diện của một người  hoặc một vật nào đó, quyền năng này chẳng những cho họ thấy, nghe và cảm giác được, mà còn  cho họ biết tức khắc tất cả những chi tiết về người và vật đó, bên trong lẫn bên ngoài, cũng như  những nguyên nhân, hậu quả và khả năng của chúng; ít nhất là những đặc tính có liên quan từ cõi thượng giới trở xuống. Người cõi ấy nhận thấy rằng đối với họ, suy nghĩ đồng nghĩa với nhận  biết, vì giác quan trực tiếp cao siêu của họ không bao giờ có sự hoài nghi, lưỡng lự hoặc trì hoãn.  Nếu họ nghĩ về một nơi chốn nào, thì họ hiện diện ngay tại nơi đó; nếu họ nghĩ đến một người  bạn nào, người bạn đó hiện diện trước mặt họ. Trên cõi này, không còn có sự hiểu lầm nào xảy  ra; không có bất cứ một biểu hiện bên ngoài nào có thể phỉnh lừa và làm cho họ lầm lạc, vì mỗi tư tưởng và tình cảm của người bạn phơi bày như một quyển sách mở ra trước mắt. Nếu họ may mắn có một người bạn trong số các bạn của họ, đã khai mở được giác quan cao  siêu hơn, giữa hai người sẽ có sự thông cảm hoàn toàn, mà người ở thế gian không thể quan  niệm được. Đối với họ, không có sự chia rẽ và khoảng cách; tình cảm không bị che giấu, mà  được biểu lộ một cách hoàn hảo, thay vì chỉ diễn đạt được phân nửa do sự vụng về của từ ngữ;  hỏi và trả lời không cần thiết, vì người ta đọc được hình tư tưởng của nhau, và sự trao đổi những  ý tưởng xảy ra nhanh như tia chớp hiện ra trong trí.

Họ có thể tìm tòi hiểu biết tất cả mọi sự vật; nơi cõi cao này, không có gì vượt quá mức tìm hiểu  của con người; thời quá khứ của thế giới được phơi bày dưới mắt họ cũng giống như thời hiện  tại. Ký ức vũ trụ (memory of nature) được ghi lại, không bao giờ bị xóa bỏ, luôn luôn sẵn sàng  dành cho họ sử dụng, và lịch sử thời cổ xưa cũng như thời cận đại được mở ra trước mắt nếu họ muốn. Họ không cần trông cậy vào những sử gia, vì sử gia có thể không chính xác và thường chỉ diễn tả một phần. Những người ở cõi này có thể tự nghiên cứu bất cứ biến cố nào mà họ muốn  biết với sự chính xác tuyệt đối, họ nhận thấy “chân lý, toàn thể chân lý, và không có gì ngoài chân  lý.” Nếu họ có thể đạt đến những cảnh cao hơn của cõi thượng giới, họ sẽ nhận thấy được  những tiền kiếp quá khứ xa xưa của họ, như nhìn vào những hình ảnh được chiếu ra từ một  cuộn phim. Họ nhận thấy những nguyên nhân nghiệp quả tạo ra hoàn cảnh hiện tại của họ; và  cũng nhận thấy những nghiệp quả cần phải thanh toán đang chờ đợi họ, trước khi “hành trình lâu  dài, buồn chán chấm dứt”. Do đó, họ nhận biết một cách không lầm lẫn vị trí đúng thực của họ trong sự tiến hóa.

Câu hỏi thường được nêu ra là, ở cõi này người ta có thể nhìn thấy tương lai rõ ràng cũng như  nhìn thấy quá khứ không? Câu trả lời là không, vì quan năng này thuộc về một cõi cao hơn. Trên  cõi thượng giới, người ta có thể dự đoán trước các biến cố đến một mức độ nào đó, nhưng việc  biết trước này sẽ không hoàn hảo. Vì trong mạng lưới định mệnh, có sự can dự của người đã  được khai mở, ý chí mạnh mẽ của họ có thể đưa những sợi chỉ mới vào mạng lưới định mệnh,  và thay đổi phương cách sống trong kiếp tới. Cuộc đời của một người tầm thường, kém phát  triển, không có ý chí, có thể được đoán trước khá rõ rệt; nhưng khi chân ngã quyết định tự điều  khiển lấy tương lai, thì khó có thể đoán trước một cách chính xác.

MÔI TRƯỜNG SINH HOẠT

Như thế, người vào cõi thượng giới với đầy đủ tri thức, đầu tiên họ cảm thấy một thứ hạnh phúc  mãnh liệt, một sinh lực khó tả, một năng lực gia tăng rộng lớn, và từ đó họ có sự tự tin hoàn toàn.  Sau khi quen sử dụng quan năng mới để nghiên cứu môi trường chung quanh, họ sẽ thấy những  gì? Họ cảm thấy như đang ở giữa một bầu vũ trụ hoàn toàn đầy ánh sáng, màu sắc và âm thanh  luôn thay đổi, dù trong những giấc mơ hay tưởng tượng cũng không cao đẹp tuyệt diệu đến như  thế. Thực sự tại cõi trần, mắt không thể thấy, tai không thể nghe và tâm cũng không thể cảm  nhận được những điều kỳ diệu, rực rỡ nơi cõi thiên đàng. Khi người nào đã có một lần kinh  nghiệm với đầy đủ tri thức nơi cõi tuyệt diệu ấy, họ sẽ nhìn thế giới với đôi mắt rất khác xa. Kinh  nghiệm này hoàn toàn không giống với bất cứ điều gì chúng ta biết ở cõi trần. Nếu thử diễn tả lại  bằng ngôn từ những kinh nghiệm ấy, họ sẽ cảm thấy bối rối và hoàn toàn bất lực; chẳng những  ngay từ đầu họ phải bỏ cuộc vì không thể nào diễn tả đúng được, mà họ cũng không thể truyền  đạt một chút ý niệm nào cho những người chưa đến được cõi ấy.

Hãy để người khác tự tưởng tượng lấy, với cảm giác chân phúc sâu đậm và sự gia tăng năng lực  phi thường như đã diễn tả. Họ cảm thấy như đang trôi nổi bềnh bồng trong một đại dương ánh  sáng sinh động; được bao quanh bởi những thực thể khác nhau có hình thể và màu sắc tuyệt  đẹp. Toàn cảnh biến đổi tùy theo mỗi làn sóng tư tưởng mà người ấy phóng ra ngoài. Đúng như  họ vừa khám phá được, tất cả chỉ do sự diễn đạt tư tưởng của họ trong chất liệu cõi thượng giới  và trong tinh hoa chất của cõi đó. Chất liệu tạo nên cõi thượng giới có cùng bản thể với chất tạo  thành thể trí, cho nên khi những phân tử của thể trí rung động, tức có sự phát sinh tư tưởng, sẽ lan truyền ngay ra chất tư tưởng bao quanh và tạo nên những rung động tương ứng, trong khi nó  cũng tự phản ảnh chính xác và hoàn toàn trong tinh hoa chất. Tư tưởng cụ thể tạo ra một cách tự nhiên hình dáng của vật thể mà nó nghĩ đến, trong khi tư tưởng trừu tượng thường thể hiện bằng  mọi kiểu mẫu hình thể theo hình học rất hoàn hảo và đẹp tuyệt vời. Chúng ta nên biết nhiều tư tưởng đối với chúng ta ở cõi trần chỉ là những tư tưởng trừu tượng, nhưng ở cõi cao này chúng  trở thành những sự kiện cụ thể.

Trong thế giới cao siêu này, người nào thích tư duy trong im lặng và tự mình cô lập với những  cảnh vật chung quanh, họ có thể sống thực trong thế giới của riêng họ mà không bị gián đoạn, có  một lợi ích khác là họ thấy được tất cả những ý tưởng và hiệu quả của những ý tưởng của họ,  toàn cảnh đều trải qua trước mắt. Trái lại, nếu muốn nghiên cứu cõi đang ở, họ phải rất cẩn thận  ngưng tư tưởng trong một lúc, để sự sáng tạo của chính tư tưởng không thể ảnh hưởng đến chất  liệu rất nhạy cảm ở chung quanh, làm thay đổi điều kiện nghiên cứu.

Không nên lầm lẫn sự giữ cho cái trí ngưng hoạt động với sự cố gắng làm cho cái trí trống không,  được chỉ dạy trong vài phương pháp thực hành Yoga. Trong trường hợp Hatha Yoga, cái trí bị làm cho trì độn xuống đến mức hoàn toàn thụ động, để nó không còn một tư tưởng riêng tư nào  có thể chống lại bất cứ ảnh hưởng nào đến từ bên ngoài, đưa đến trạng thái gần giống như đồng  cốt (mediumship). Trong khi ở trường hợp thứ nhất, con người càng giữ được cái trí tỉnh táo,  minh mẫn và chủ động càng tốt; giữ cho tư tưởng ngưng lại trong một lúc chỉ để ngăn cản cá  nhân tính xen vào công việc quan sát mà họ muốn thực hiện.

Khi một người thành công trong việc đi tham quan cõi thượng giới, họ nhận thấy chính họ không  còn là một trung tâm chói sáng của tất cả những màu sắc, hình thể và âm thanh kỳ diệu, mà là  một sự hài hòa trong toàn cảnh sáng chói rực rỡ, rộng lớn hơn và đầy đủ hơn; tôi thử cố gắng  mô tả nhưng không thành công, vì nó không ngừng biểu hiện. Khi tìm ra cách giải thích hiện  tượng này, họ bắt đầu nhận thấy tất cả vẻ lộng lẫy, không phải chỉ là sự biểu lộ ngẫu nhiên,  không mục đích, một cảnh bình minh của miền cực bắc cõi thiên đàng; tất cả đều có ý nghĩa, mà  chính họ có thể hiểu. Bỗng nhiên họ nhận biết được những gì mà họ đang quan sát với sự thích  thú ngây ngất đó, chỉ đơn giản là thứ ngôn ngữ đầy màu sắc rực rỡ (glorious colour-language)  của các vị thiên thần tiến hóa cao, đang diễn đạt hay trao đổi tư tưởng với nhau. Nhờ kinh  nghiệm và thực hành, họ nhận thấy chính họ cũng có thể sử dụng phương thức diễn đạt mới,  tuyệt diệu đó; và do sự khám phá này, họ sở hữu thêm một khả năng lớn lao khác đang chờ đón  họ. Đó là năng lực tiếp chuyện và học hỏi từ những nhân vật cao cả không thuộc hàng nhân loại  ở cõi này; chúng ta sẽ đề cập vấn đề này đầy đủ hơn khi nói về những cư dân ở cõi thượng giới  trong một chương khác.

Đến đây độc giả cũng thấy rõ vì sao trong quyển sách này chúng ta không thể dành một tiết mục  để tả cảnh sắc cõi thượng giới, như đã làm trong quyển “Cõi Trung Giới”. Thực sự, cõi thượng  giới không có cảnh sắc, ngoại trừ cảnh sắc do tư tưởng của từng cá nhân tạo ra. Cũng nên nhắc  đến sự kiện là trong nhiều trường hợp, vô số thực thể liên tục xuất hiện trước người quan sát,  thường tự phô bày vẻ đẹp trác tuyệt nhất; vì thế sự diễn đạt bằng ngôn từ những trạng thái của  sự sống nơi cõi cao này gặp nhiều khó khăn. Chúng ta có thể nói tất cả những cảnh sắc đều có  thể có nơi đây; không có một vẻ đẹp nào mà con người có thể tưởng tượng được ở mặt đất, bầu  trời hay biển cả, mà không hiện diện ở nơi đây một cách đầy đủ hơn, với cường độ tăng nhiều  lần hơn, ngoài sức tưởng tượng của con người. Nhưng trong tất cả thực thể sống động rực rỡ này, mỗi người chỉ thấy được điều gì mà chính năng lực bên trong của họ có thể thấy được; nói  khác đi là do trình độ phát triển mà họ đã đạt được trong kiếp sống ở cõi trần và cõi trung giới.

NHỮNG LÀN SÓNG VĨ ĐẠI

(The Great Waves)

Nếu quan sát viên muốn phân tích sâu xa hơn về cõi này, để biết sự thực như thế nào khi chưa bị quấy rối bởi tư tưởng hoặc cuộc đàm thoại của bất cứ một trong những cư dân ở cõi này; họ có  thể thực hiện bằng cách tự bao bọc bởi một cái vỏ khổng lồ mà tất cả những ảnh hưởng nói trên  không thể xâm nhập vào, dĩ nhiên, họ phải duy trì cái trí hoàn toàn yên tĩnh, rồi khảo sát những  trạng thái hiện có bên trong cái vỏ ấy.

Nếu làm thí nghiệm này thật cẩn thận, họ sẽ thấy đại dương ánh sáng này không ở trạng thái yên  tĩnh, vì các phân tử của nó liên tục rung động mạnh và nhanh, nhưng đồng nhất. Những ánh  sáng đầy màu sắc đẹp đẽ rực rỡ, thay đổi hình dáng liên tục, không còn phát sinh ra nữa. Bây  giờ người quan sát có thể nhận thấy hàng loạt những nhịp đập khác điều hoà, hoàn toàn khác  hẳn với các hiện tượng giả tạo lúc trước. Các nhịp đập này là sự biểu hiện phổ quát hiển nhiên,  mà cái vỏ bao bọc được tạo ra không thể ngăn cản hay loại bỏ ra ngoài. Chúng không gây nên  sự thay đổi màu sắc, cũng không tạo ra hình thể nào, nhưng trôi chảy điều hòa không bị ngăn  trở, xuyên qua tất cả chất liệu cõi thượng giới, hướng ra ngoài rồi lại trở vào trung tâm, như sự thở ra hít vào của hơi thở vĩ đại ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.

Chúng ta có thể phân biệt vài loại luồng sóng khác nhau rõ rệt theo khối lượng, theo giai đoạn  rung động, và sắc thái của sự hòa điệu mà chúng tạo ra. Trong số đó có một luồng sóng lớn hơn  những luồng sóng khác, giống như nhịp đập trái tim của toàn hệ thống. Luồng sóng vĩ đại này bắt  nguồn từ những trung tâm không được biết đến, thuộc các cõi khác rất cao, tuôn sự sống xuyên  qua khắp thế giới chúng ta, rồi như thủy triều được rút về những trung tâm phát xuất ra chúng.  Luồng sóng đến như một đường cong dài dợn sóng, có âm thanh giống như tiếng rì rào của biển  cả; xuyên qua đó vọng lại một nhạc khúc khải hoàn vĩ đại, phi thường, thật đúng là âm nhạc của  những cõi trời. Người nào đã một lần nghe được bài hát kỳ diệu của thiên nhiên này, sẽ không  bao giờ quên được. Ngay nơi cõi vật chất ảm đạm đầy ảo tưởng, người ấy vẫn luôn nghe tiếng  thì thầm của nó, giữ mãi trong tâm trí để nhắc nhở về sức mạnh, ánh sáng và sự huy hoàng của  nguồn sống thực sự ở trên.

Nếu người quan sát có tâm và trí trong sạch và đã tiến bộ về tâm linh đến một trình độ nào đó,  tâm thức của họ có thể đồng hoá với sự luân lưu của làn sóng kỳ diệu này; linh hồn của họ hòa  nhập vào đó, và tự để cho làn sóng mang họ về nguồn. Tôi có thể nói, làm như thế là không khôn  ngoan, trừ trường hợp có Chân Sư ở bên cạnh, để kéo họ đúng lúc ra khỏi sự lôi cuốn mãnh liệt  đó. Nếu không, làn sóng này với sức mạnh bất khả kháng, sẽ cuốn họ vào những cõi cao thật xa,  mà linh hồn chưa thể chịu đựng những sự huy hoàng lộng lẫy quá mức; họ sẽ bị mất ý thức và  không biết khi nào và làm cách nào để thu hồi tâm thức trở lại. Mục đích tối hậu của sự tiến hoá  là đạt đến sự hợp nhất; nhưng chúng ta phải tiến đến mục đích cuối cùng này với một tri thức đầy  đủ và hoàn hảo như một vị vua chiến thắng, vinh quang tiếp nhận sự nghiệp; chớ không phải trôi  giạt, thấm nhập trong trạng thái trống không gần như bị hủy diệt.

CÕI HẠ THIÊN VÀ CÕI THƯỢNG THIÊN

Tất cả những điều chúng ta đã cố gắng diễn tả ở trên, chỉ áp dụng cho vùng thấp nhất cõi thượng  giới. Cõi thượng giới cũng giống như cõi trung giới và cõi trần, được chia làm 7 vùng khác nhau.  Bốn vùng thấp, được gọi chung là cõi “sắc tướng” (Rupa) hay là những cảnh có hình tướng; các  cảnh này tạo nên cõi hạ thiên; nơi đây người tiến hóa trung bình sẽ trải qua một cuộc sống phúc  lạc lâu dài giữa hai lần đầu thai. Ba vùng kia gọi là cõi “vô sắc tướng” (Arupa) hay là cõi không có  hình tướng, tạo thành cõi thượng thiên; đây là nơi sinh hoạt của chân ngã luân hồi, là quê hương thật sự của linh hồn con người. Những danh từ Phạn ngữ này được dùng vì ở các cảnh sắc  tướng (Rupa), mỗi tư tưởng tạo nên hình dạng xác định; trong khi ở những cảnh vô sắc tướng  (Arupa), tư tưởng diễn đạt theo cách thức hoàn toàn khác lạ, chúng tôi sẽ giải thích sau. Có sự phân chia rõ ràng giữa hai vùng rộng lớn này của cõi thượng giới, do đó để sinh hoạt trên hai  vùng này, cần phải sử dụng những dẫn thể khác nhau của tâm thức.

Dẫn thể thích hợp để sinh hoạt ở cõi hạ thiên là thể trí (mind body); trong khi ở cõi thượng thiên  là nhân thể (causal body), tức vận cụ của chân ngã luân hồi, duy trì từ kiếp này sang kiếp kia  trong suốt giai đoạn tiến hoá. Còn có một sự khác biệt lớn khác là ở bốn cảnh thấp của cõi  thượng giới, ảo giác vẫn còn tồn tại đến một mức độ nào đó. Thật ra ảo giác này không tồn tại  đối với người mà trong kiếp sống có đầy đủ tri thức; nhưng nó tồn tại đối với người chưa tiến  hóa, họ qua đây sau khi xảy ra hiện tượng mà người đời gọi là sự chết. Những tư tưởng và  nguyện vọng cao thượng trong kiếp sống ở cõi trần gom lại làm thành một lớp vỏ bao chung  quanh họ, tạo nên một thế giới chủ quan của riêng họ, và trong lớp vỏ đó họ sống kiếp sống thiên  đàng của họ. Những người này không nhận thấy, hoặc nhận thấy rất ít những điều kỳ diệu thật  sự của cõi thượng giới ở bên ngoài lớp vỏ, nhưng thường họ tin rằng họ thấy được tất cả điều gì  mà họ muốn thấy.

Tuy nhiên, nếu chúng ta nghĩ rằng đám mây tư tưởng ấy (thought-cloud) như là một giới hạn, đó  sẽ là một sự sai lầm; nhiệm vụ của nó là chỉ cho phép con người đáp ứng với một vài rung động  nào đó, chứ không phải ngăn chặn họ đáp ứng với những rung động khác. Thực ra những tư  tưởng bao quanh con người là những năng lực, từ đó họ rút ra những điều phong phú của cõi  trời. Cõi trí này chính là một phản ảnh của Thiên Trí (Devine Mind), một kho tàng vô tận từ đó con  người hưởng chân phúc cõi thiên đàng. Mức độ chân phúc mà con người rút ra được, tùy thuộc  vào năng lực tư tưởng, cũng như nguyện vọng của họ có trong kiếp sống ở cõi trần và cõi trung  giới.

Trên cõi thượng thiên, giới hạn này không còn nữa; thật ra ngay ở cõi này cũng có nhiều chân  ngã chỉ ý thức một cách yếu ớt, mơ màng về sự vật chung quanh; nhưng khi họ thấy, tương đối  họ thấy đúng thật, vì tư tưởng không còn khoác lên những hình thể giới hạn như ở cõi thấp.

HOẠT ĐỘNG CỦA TƯ TƯỞNG

Trạng thái chính xác của thể trí đối với các nhân vật cư trú trong những cảnh khác nhau sẽ được  trình bày đầy đủ hơn nơi những chương thích hợp. Tuy nhiên nơi đây chúng ta cũng cần hiểu  cách thức tư tưởng tác động ở mức độ thấp và cao, trước khi có thể hiểu một cách chính xác bản  chất của hai vùng rộng lớn này. Trong việc cố gắng làm sáng tỏ vấn đề, có lẽ cũng nên trình bày  chi tiết một vài thí nghiệm do những người khảo sát thuộc nhóm chúng ta thực hiện.

Ở giai đoạn đầu của việc nghiên cứu, chúng ta nhận thấy rõ rằng ở cõi thượng giới cũng như  trung giới, đều có sự hiện diện của một loài tinh hoa chất, hoàn toàn phân biệt với chất liệu làm ra  cõi đó. Loài tinh hoa chất này rất nhạy cảm đối với tác động của tư tưởng, sự nhạy cảm này xảy  ra tức khắc, nhanh hơn rất nhiều so với ở cõi thấp. Nhưng ở cõi thượng giới tất cả đều là chất  của tư tưởng; nên thể trí không những chỉ tác động lên tinh hoa chất mà còn lên chính chất liệu  của cõi thượng giới, vì thế chúng ta cần phải phân biệt giữa hai hiệu quả này.

Sau nhiều thí nghiệm còn chưa xác định, có một phương pháp được chấp nhận, vì nó đưa ra một  ý niệm khá rõ ràng về sự khác nhau của những kết quả phát sinh. Một người nghiên cứu ở tại  cảnh thấp nhất của cõi thượng giới gởi ra các hình tư tưởng, trong khi những người khác lên một  cảnh cao kế tiếp, để có thể từ trên quan sát điều gì xảy ra, như vậy có thể tránh khỏi sai lầm. Khi có đủ những điều kiện này, người ta thử gởi đi một tư tưởng thương yêu và khích lệ, đến một  người bạn đang ở một xứ rất xa.

Thí nghiệm có kết quả rất rõ ràng: một lớp vỏ rung động được cấu tạo bằng chất liệu cõi thượng  giới, phát ra mọi hướng chung quanh người điều khiển; giống như một vòng tròn gợn sóng trên  mặt nước im lặng phát xuất từ một điểm, nơi mà viên đá rơi vào. Chỉ có sự khác biệt là lớp vỏ rung động hình cầu di chuyển ra theo nhiều chiều đo (dimensions), thay vì chỉ ở trên một bề mặt  phẳng (flat surface). Những rung động này giống như những rung động ở cõi vật chất, nhưng kéo  dài lâu hơn nhiều, cường độ giảm đi khi chúng cách xa điểm khởi hành; khi chúng tiến đến một  khoảng cách rất xa, chúng có vẻ như kiệt quệ và trở nên rất yếu, không còn được nhận thấy nữa. Như thế, ở cõi thượng giới mỗi người đều là một trung tâm tư tưởng sáng chói, và tất cả các tia  sáng phát ra theo mọi hướng mà không chút nào cản trở lẫn nhau, giống như tia sáng ở cõi vật  chất. Hình cầu rung động mở rộng ra này có sắc trắng đục và lóng lánh nhiều màu sắc, nhưng  khi hình cầu tiến ra xa, những màu sắc này càng lúc càng mờ dần.

Tuy nhiên, hiệu quả đối với loài tinh hoa chất ở cõi này hoàn toàn khác hẳn. Trong tinh hoa chất,  tư tưởng tức khắc tạo ra một hình ảnh rõ ràng giống như hình dáng con người, chỉ có một màu,  nhưng biểu lộ ra vô số bóng sắc từ tối đến sáng của màu ấy. Hình dáng này lóe lên như chớp,  vượt đại dương; đến với người bạn mà lời chúc lành được hướng đến. Nơi đây, nó tự khoác lên  tinh hoa chất của cõi trung giới, và trở thành một tinh linh nhân tạo bình thường của cõi này; nó  chờ đợi khi có dịp sẽ tuôn rải ảnh hưởng hữu ích mà nó chứa đựng cho người bạn, như chúng  tôi đã giải thích trong quyển “Cõi Trung Giới”. Khi khoác lên hình thể ở cõi trung giới, sự sáng  chói của tinh hoa chất cõi trí bị mất đi rất nhiều, mặc dù màu hồng vẫn còn chiếu rực rỡ bên trong  lớp vỏ, bây giờ lớp vỏ này được tạo thành bởi chất liệu cõi thấp hơn. Điều này cho thấy rằng, sau  khi tư tưởng nguyên thủy làm linh hoạt loài tinh hoa chất ở cõi riêng của nó, rồi cũng từ tư tưởng  đó cộng thêm hình thể bằng tinh hoa chất cõi trí, tác động như linh hồn trong tinh hoa chất cõi  trung giới. Sự kiện này gần giống với cách thức mà linh hồn nguyên thủy khoác lên lớp áo này  sau lớp áo kia, trong khi đi xuống những cõi và những cảnh khác nhau của vật chất.

Theo cách thức trên, những thí nghiệm kế tiếp cho thấy màu sắc của tinh hoa chất dự phần trong  cuộc thí nghiệm thay đổi tùy theo đặc tính của tư tưởng. Như trên đã nói, tư tưởng yêu thương  sâu đậm, sẽ tạo ra một thực thể có màu hồng rực sáng. Một lời chúc chân thành chóng lành  bệnh, gởi đến người bạn đang bệnh, sẽ thu hút loài tinh hoa chất có màu trắng bạc rất đáng yêu.  Trong khi một tư tưởng chân thành, cố gắng làm vững mạnh tâm trí người đang chán nản và thất  vọng, sẽ tạo ra hình ảnh một sứ giả, có màu vàng kim đẹp đẽ sáng chói.

Người ta nhận thấy trong tất cả những trường hợp này, ngoài sự tạo ra những màu sắc chói sáng  và những rung động trong chất liệu cõi thượng giới, còn có một lực rõ ràng trong hình thể tinh  hoa chất, được gởi đến người mà tư tưởng hướng tới, và sự kiện này xảy ra không thay đổi, chỉ có một trường hợp ngoại lệ sau đây. Một trong những người thực hành thí nghiệm, trong khi  đang ở cảnh thấp của cõi này, hướng một tư tưởng yêu thương và lòng tôn sùng mạnh mẽ đến  một vị Chân Sư, vị Thầy tâm linh của anh ta, người quan sát đang ở cảnh cao hơn, nhận thấy kết  quả xảy ra trái ngược với những trường hợp được kể trên.

Cần nhắc lại rằng, đệ tử của một trong những Chân Sư, luôn luôn nối kết với vị Thầy của họ bằng  một luồng tư tưởng và ảnh hưởng liên tục; sự kiện này được biểu lộ trên cõi thượng giới như một  tia sáng, hoặc một dòng suối ánh sáng chói lọi đầy màu sắc, tím, vàng kim hay xanh lơ. Người ta  thường nghĩ rằng tư tưởng yêu thương, chân thành của đệ tử sẽ tạo ra một sự rung động đặc  biệt theo đường nối kết này. Tuy nhiên thay vì như thế, màu sắc của luồng sóng nối kết thình lình  trở nên rực rỡ hẳn lên, và một dòng ảnh hưởng tâm linh rất rõ ràng hướng về đệ tử. Như thế chứng tỏ rằng, khi người đệ tử nghĩ về Chân Sư, họ đã thật sự làm sinh động con đường nối kết  với Ngài, và mở rộng con đường cho sức mạnh từ những cõi cao hơn tuôn thêm xuống trợ giúp  họ. Dường như Chân Sư tích lũy ảnh hưởng và năng lực trợ giúp rất cao độ; bất cứ tư tưởng nào  làm tăng cường hoạt động của đường vận hà thông thương đến Ngài, sẽ làm mở rộng đường  vận hà, để cho tình thương như đại dương của Ngài có lối tuôn xuống.

Ở các cảnh vô sắc tướng, sự khác biệt nhau về hiệu quả tác động của tư tưởng rất rõ ràng, đặc  biệt liên quan đến tinh hoa chất. Sự biến động gây ra trong chất liệu các cõi thì tương tự nhau,  tuy cường độ gia tăng rất lớn đối với cõi được cấu tạo bằng loại vật chất tinh vi hơn. Nhưng trong  tinh hoa chất không có bất cứ hình thể nào được tạo ra, và cách tác động cũng hoàn toàn khác  biệt. Trong tất cả các thí nghiệm ở những cõi thấp hơn, người ta thấy rằng loài tinh linh bay lượn  chung quanh người suy tưởng, và chờ đợi cơ hội thích hợp để tiêu dùng năng lượng của chính  họ lên thể trí, thể vía, cũng có khi lên thể xác của họ. Nhưng ở đây, hiệu quả xảy ra như một tia  chớp của tinh hoa chất từ nhân thể (causal body) của người suy tưởng, hướng trực tiếp đến  nhân thể của người mà họ nghĩ tới. Sự khác biệt là trong khi tư tưởng ở những cõi thấp luôn luôn  hướng đến phàm ngã; ở cõi cao này chúng ảnh hưởng đến chân ngã luân hồi, con người thật sự.  Nếu thông điệp của chúng ta có liên hệ đến phàm ngã, nó chỉ đến với phàm ngã từ trên cao, qua  trung gian vận cụ nhân thể.

HÌNH TƯ TƯỞNG

Dĩ nhiên không phải tất cả những tư tưởng ở cõi này đều được gởi trực tiếp đến vài người nào  đó. Có nhiều tư tưởng chỉ được tạo ra, rồi trôi nổi lang thang vô định hướng; có vô số tư tưởng  loại này, chúng có hình thể và màu sắc rất thay đổi, việc nghiên cứu chúng là một khoa học riêng  biệt rất lý thú. Muốn diễn tả chi tiết, mặc dù chỉ những loại chính trong các tư tưởng, chúng ta  cũng không đủ chỗ trong quyển sách này. Nhưng những nguyên tắc theo đó những loại tư tưởng  được tạo ra, có thể tìm thấy trong những đoạn văn gợi ý nhất do bà Besant viết ra trong tạp chí  “Lucifer” (về sau trở thành là tập Kỷ Yếu Thông Thiên Học) tháng Chín 1896. Bà đưa ra ba  nguyên tắc quan trọng trong việc tạo thành hình tư tưởng do tác động của cái trí: (a) Phẩm chất  của tư tưởng xác định màu sắc của hình tư tưởng. (b) Bản chất của tư tưởng xác định hình dáng  của hình tư tưởng. (c) Sự minh bạch của tư tưởng xác định đường nét rõ ràng của hình tư  tưởng. Sau khi đưa ra những thí dụ ảnh hưởng đến màu sắc của hình tư tưởng, bà tiếp theo:

“Nếu thể vía và thể trí rung động dưới ảnh hưởng của lòng sùng kính, hào quang con người sẽ được tràn ngập một màu xanh da trời; với mức độ, cũng như sự đẹp đẽ và sự rõ ràng tuỳ theo  chiều sâu, cao độ và sự trong sạch của cảm giác tôn sùng. Chúng ta có thể thấy hình tư tưởng  phát xuất lên từ một ngôi nhà thờ, những hình tư tưởng này phần nhiều có chu vi không được rõ  nét, các đường biên còn mờ nhạt, như những khối mây màu xanh dâng lên cuồn cuộn. Thường  thì màu này bị mờ đục do sự trộn lẫn bởi những tình cảm ích kỷ, khi ấy màu xanh bị trộn lẫn với  màu nâu, làm mất sự sáng chói và trong suốt. Nhưng tư tưởng sùng kính của một tâm hồn không  ích kỷ có vẻ đẹp đáng yêu, giống như màu xanh thẳm của một bầu trời mùa hè. Xuyên qua các  đám mây màu xanh này, thường hiện ra các ngôi sao màu vàng kim rất sáng chói, hướng lên trên  giống như những tia lửa.

“Sự nóng giận tạo ra màu đỏ với nhiều sắc thái, từ màu đỏ gạch đến màu đỏ tươi; sự nóng giận  thô bạo tạo ra các tia chớp màu đỏ đục và tối từ những đám mây màu nâu sậm; trong khi sự “tức giận cao thượng” tạo ra màu đỏ tươi trong sáng, nhìn không đến nỗi xấu xí, nhưng nó gây cảm  giác rùng mình không thích thú.

“Sự thương yêu tạo ra những đám mây màu hồng, có sắc thái khác nhau; màu đỏ đục khi tình  yêu có bản chất thú tính, màu hồng tươi hoà lẫn màu nâu khi con người có tính ích kỷ, và màu lá  cây mờ đục khi có sự ghen tuông. Khi tình yêu trở nên thanh khiết, không còn yếu tố ích kỷ, sẽ tạo nên màu sắc rất tươi đẹp, như màu hồng sắc sảo của các tia sáng buổi bình minh, và tuôn  tràn như những vòng tròn càng lúc càng rộng hơn, cho thấy sự dịu dàng, rộng rãi và lòng trắc ẩn  đối với tất cả mọi người cần sự nâng đỡ.

“Trí tuệ tạo ra hình tư tưởng màu vàng; lý luận trong sáng hướng đến mục đích tâm linh, sẽ cho  ra một màu vàng tinh xảo và rất đẹp; trong khi lý luận để đạt mục đích ích kỷ, và tham vọng, sẽ có  màu cam sậm, rõ rệt và mãnh liệt.” (Lucifer, bộ xix, trang 71.)

Chúng ta nhận thấy đoạn văn trên mô tả hình tư tưởng thể trí, luôn cả hình tư tưởng thể vía; một  số loại tình cảm cần sử dụng chất liệu ở cả cõi thấp và cõi cao hơn, mới có thể diễn đạt được.  Sau đó, bà Besant cũng có đưa ra vài thí dụ về những tư tưởng cao thượng của chúng ta, tạo ra  những hình ảnh đẹp mắt giống như đóa hoa hay vỏ ốc. Bà cũng kể ra trường hợp đặc biệt mà tư  tưởng tạo ra hình dáng con người, có thể gây ngộ nhận với sự hiện hình:

“Một hình tư tưởng có thể lấy hình dáng người đưa ra tư tưởng đó. Nếu một người có ý muốn  mạnh mẽ hiện diện ở một nơi đặc biệt nào đó, đến thăm một người khác và muốn được người  bạn nhìn thấy mình, trong trường hợp này hình tư tưởng được tạo ra có thể giống hình dáng của  chính họ. Nếu một người đã mở thần nhãn có mặt ở nơi đó, có thể lầm tưởng là người ấy hiện  hình trong thể vía. Một hình tư tưởng của loại này có thể chuyển một thông điệp, nếu có ý tưởng  muốn gởi đi; khi ấy, nó đánh thức những rung động trong thể vía của người nhận, và những rung  động này truyền từ thể vía đến não bộ, ở não bộ những rung động được diễn dịch thành một tư  tưởng hay một câu nói. Hình tư tưởng như thế, có thể chuyển trở lại người đã tạo ra nó, do sự liên hệ từ điện giữa nó và người ấy.”

Những ai muốn nắm vững phần rất phức tạp này của đề tài đang nghiên cứu, cần phải đọc thật  cẩn thận toàn bài này, mà nơi đây chúng tôi chỉ rút ra một phần nhỏ; vì kèm theo bài viết, có  trưng bày nhiều hình màu rất đẹp, để những người chưa tự mình thấy được, có thể nhận thức  một cách gần đúng thế nào là hình tư tưởng thực sự, nó trình bày rõ ràng hơn bất cứ bài viết nào  từ trước đến nay.

NHỮNG CẢNH CỦA CÕI THƯỢNG GIỚI

Ngoài cách sử dụng những từ ngữ rất tổng quát, thật khó trả lời cho câu hỏi về sự khác nhau  giữa chất liệu cấu tạo nên những cảnh khác nhau của cõi thượng giới. Thật ra không có đủ hình  dung từ để diễn tả cảnh thấp nhất của cõi thượng giới, và không còn xót lại từ nào để diễn tả những cảnh cao hơn. Thật vậy, ngoại trừ chúng ta có thể nói rằng khi càng lên cao, chất liệu  càng trở nên tinh vi hơn, hài hoà hơn; ánh sáng sinh động và trong suốt hơn, âm thanh cũng trở nên điều hòa hơn. Càng lên cao càng có nhiều sắc thái phụ tinh xảo hơn, được biến đổi từ những màu chính, và có thêm những màu sắc mới xuất hiện mà ở cõi trần chưa bao giờ thấy. Vì  thế cũng đúng khi người ta nói một cách thi vị rằng, ánh sáng nơi cõi dưới là bóng tối của cõi  trên.

Có lẽ vấn đề sẽ đơn giản hơn nếu chúng ta bắt đầu quan sát tư tưởng từ trên cao thay vì từ dưới  thấp. Chúng ta sẽ nhận thấy vật liệu cấu tạo nên cảnh cao nhất của cõi thượng giới, được làm sinh động và linh hoạt nhờ một nguồn năng lượng hằng tuôn xuống như ánh sáng từ một cõi bên  trên cõi thượng giới. Kế đó, nếu chúng ta đi xuống cảnh thứ nhì,[4] chúng ta sẽ nhận thấy chất  liệu của cảnh thứ nhất trở thành năng lượng cho cảnh thứ nhì. Nói một cách chính xác hơn, năng  lượng nguyên thủy cộng thêm lớp áo bằng chất liệu cảnh thứ nhất, tạo thành năng lượng làm  sinh động cho chất liệu cảnh thứ nhì. Cùng một cách thức như thế, chúng ta nhận thấy năng  lượng làm sinh động cho cảnh thứ ba là năng lượng nguyên thủy, khoác lên hai lớp màn bằng  chất liệu của cảnh thứ nhất và thứ nhì. Như thế, khi xuống đến cảnh thứ bảy, năng lượng nguyên  thuỷ bị bao bọc bởi 6 lớp, do đó nó trở nên yếu hơn nhiều và hoạt động kém đi. Tiến trình này rất  giống những lớp màn bao phủ linh thể (Atma), là chân linh nguyên thuỷ xuống như là nguyên thể Chân Thần, cung cấp năng lượng cho chất liệu của các cõi trong vũ trụ. Đây là một sự kiện thông  thường trong thiên nhiên, mà người nghiên cứu cần phải làm quen với quan niệm này. (Xin xem  quyển “Minh Triết Cổ Truyền” của bà Besant.)

NHỮNG LƯU TRỮ CỦA QUÁ KHỨ

(The Records of The Past)

Khi nói về những đặc tính tổng quát cõi thượng giới, chúng ta nên đề cập đến cái hậu nền luôn  luôn hiện diện, do sự lưu trữ những sự việc trong quá khứ, tức ký ức vũ trụ, nguồn lịch sử duy  nhất đáng tin cậy của thế giới. Trong khi những gì xảy ra ở cõi vật chất, tự nó không được ghi giữ lại hoàn toàn, nhưng chỉ là phản ảnh từ cõi cao hơn, nơi ấy chúng biểu hiện rõ ràng, chính xác và  liên tục; khác với sự biểu hiện không liên tục, ngắt quãng ở cõi trung giới. Cho nên chúng ta chỉ có thể chấp nhận những hình ảnh thuộc quá khứ, do một người đã có nhãn thông với khả năng  nhìn được cõi thượng giới. Ngay trong trường hợp người đã có nhãn thông, nếu họ chưa có khả năng di chuyển từ cõi thượng giới xuống cõi trần với đầy đủ tri thức, cũng có thể nhầm lẫn khi  diễn tả lại những sự việc mà họ đã thấy ở cõi trên.

Đối với những học giả đã thành công trong việc khai mở những năng lực tiềm ẩn bên trong, để có  thể sử dụng giác quan thuộc về cõi trí trong khi đang ở trong thể xác, có một phạm vi nghiên cứu  lịch sử hấp dẫn, làm cho họ say mê. Nếu thích, họ có thể xét lại tất cả những giai đoạn lịch sử mà  chúng ta đã biết, sửa chữa những sai lầm và quan niệm lệch lạc thường xen lẫn vào lịch sử. Họ cũng có thể lướt qua cả lịch sử thế giới từ lúc khởi thủy, nhìn sự phát triển chậm chạp của trí  thông minh trong con người, họ theo dõi sự nhập thế của các vị Hoả Tinh Quân (Lords of the  Flame), và sự phát triển các nền văn minh hùng mạnh mà các Ngài đã sáng lập. Sự nghiên cứu của họ không chỉ giới hạn về sự tiến bộ của con người, vì họ có trước mặt như  một viện bảo tàng, tất cả hình thể kỳ lạ của thú vật và thảo mộc hiện diện trong giai đoạn đầu của  thế giới. Họ có thể theo dõi những thay đổi kỳ diệu của địa chất đã xảy ra, và nhìn sự diễn tiến  của các trận đại hồng thủy đã làm thay đổi toàn bộ bề mặt của quả địa cầu nhiều lần. Khi khảo sát được những lưu trữ này, chúng ta có thể biết được rất nhiều sự việc khác nhau; đây  là lợi điểm mà cõi thượng giới cung cấp cho những cõi thấp hơn. Thêm vào đó, có nhiều cơ hội  dành riêng cho người mở được khả năng cao và mới mẻ này; họ có đặc quyền liên hệ trực tiếp,  không trở ngại, chẳng những với thế giới của đại thiên thần (great devas), mà còn với các vị Chân Sư minh triết. Do được vui hưởng niềm phúc lạc thâm sâu, sẽ đem lại sự nghỉ ngơi và làm  giảm bớt những căng thẳng mệt nhọc từ cuộc sống vật chất. Trên tất cả, khả năng của học giả được nâng cao, giúp cho họ phụng sự nhân loại đắc lực hơn. Như thế, chúng ta bắt đầu thoáng  thấy điều lợi ích mà nghiên cứu sinh đạt được, khi họ có thể tùy theo ý muốn và với đầy đủ tri  thức bước vào vùng sáng chói của cõi trời chân phúc.

NHỮNG CƯ DÂN

Trong khi cố gắng diễn tả những cư dân ở cõi thượng giới, điều tốt nhất là chúng ta có thể phân  chia thành ba nhóm chính như chúng ta đã làm trong quyển “Cõi Trung Giới” gồm: nhân loại  (human), những loài không thuộc hàng ngũ nhân loại (non-human) và những loài giả tạo  (artificial). Dù ở đây hiển nhiên số lượng trong mỗi nhóm không đồng đều nhau, vì những đặc  tính được tạo ra do những đam mê xấu xa của con người rất nhiều ở cõi thấp, không tồn tại  được nơi cõi cao này.

***

Tổng hợp sách trong Thư viện trái đất 

Facebook page

ĐỂ LẠI NHẬN XÉT

Please enter your comment!
Please enter your name here