Họ đã dạo bước cùng Chúa Jesus – Chương 11 Cái chết chỉ là một cuộc hành hương khác.

0
21

 Tôi biết sẽ phải có thêm một buổi thôi miên nữa để hoàn thành câu chuyện về mối quan hệ của Naomi với Chúa Giê-su. Chúng tôi sẽ phải đưa cô ấy đi qua phần cuối cùng của cuộc đời cô ấy. Tôi cũng muốn tìm hiểu thêm một số điều mà cô ấy đã nghe về ông ấy, những tin đồn hay những điều khác. Tôi đã sử dụng từ khóa của Anna và đếm để cô ấy quay trở lại. 

D: 1… 2… 3… chúng ta đã quay ngược thời gian trở về thời Naomi còn sống, về cuối cuộc đời của cô ấy. Cô đang làm gì đấy? Cô nhìn thấy gì?

Giọng của Anna có vẻ già nua và mệt mỏi, và nó vẫn như vậy trong suốt buổi thôi miên. Nó hoàn toàn trái ngược với phẩm chất ngây thơ trong sáng của cô bé mười ba tuổi mà câu chuyện của cô đã chi phối phần lớn lời dẫn chuyện này.

A: Tôi đang ở trong làng với những người bị bệnh phong. Và tôi đang chăm sóc cho họ.

D: Cô đã bao giờ bị lây bệnh từ họ hay không?

A: Không. Không, hầu hết cuộc đời tôi đều có sức khỏe tốt. Tôi đã học được nhiều điều về việc chữa lành. Và tôi đã tự bảo vệ mình.

D: Đó là nỗi sợ hãi chung của mọi người, phải không? Họ sợ mình có thể mắc phải căn bệnh đó?

A: Vâng. Và sợ hãi là thứ mang lại hầu hết các bệnh tật.

D: Người bình thường sẽ sợ đến ngôi làng đó, phải không?

A: Vâng. Rất khó để mọi người quan tâm đến những người thực sự cần.

D: Bây giờ cô bao nhiêu tuổi?

A: (Thở dài) Tôi… sáu mươi… tám. (Cô ấy có vẻ không chắc).

D: Vậy thì cô đã sống lâu rồi phải không?

A: (Yếu ớt) Phải, tôi đã.

D: Cô cảm thấy thế nào về cuộc sống của mình?

A: Tôi cảm thấy… tôi cảm thấy mình đã được ban phước lành về nhiều mặt. Tôi cảm thấy tôi đã được phụng sự. Và tôi mong chờ được tiếp tục.

D: Cô có từng kết hôn bao giờ không?

A: Không. Tôi gần như đã kết hôn. Nhưng điều đó hẳn đã không khả thi. 

D: Cô có bao giờ hối tiếc về điều đó không?

A: Nhìn chung thì không. Tôi đã lấp đầy bản thân mình bằng những điều khác. Tôi biết người đàn ông tôi yêu… Tôi đã được ban phước lành qua những giây phút hiếm hoi đó. Nhưng điều đó tự nó đã đủ để lấp đầy phần đấy trong cuộc sống của tôi rồi. Tôi biết tôi còn những việc khác phải làm.

D: Cô đã thực sự tận tâm. Cô đã bao giờ về để gặp lại cha mẹ mình chưa?

A: (Thở dài) Ồ, tôi đã về. Ban đầu, khi họ còn sống, nếu tôi đi hành hương, có lẽ là mỗi năm một lần. Và thường xuyên nhất có thể sau đó. Nó trở nên khó khăn để thực hiện các chuyến đi. Và việc tìm những người đó để đào tạo và thay thế vị trí của tôi trở nên khó khăn hơn.

D: Vậy cô có dành phần lớn thời gian của mình trong ngôi làng của những người phong không?

A: Phần lớn thời gian của tôi. Nhưng tôi đã đến những ngôi làng khác. Một số ngôi làng là cộng đồng thường xuyên, nơi các cuộc họp được tổ chức để giảng dạy luật của Đức Chúa Trời và việc chữa lành. Và những làng khác chỉ để đến phụng sự khi tôi được cần đến.

D: Trong số này có bất kỳ ngôi làng nào lớn không?

A: Không. Hầu hết họ chỉ là những cộng đồng nhỏ, nơi mọi người không được chăm sóc.

D: Tôi đang thắc mắc về một số tên của những địa điểm mà tôi có thể nhận ra.

A: À, tôi tiếp tục quay trở lại khi có thể, đến Bar-el. Tôi đã đến một ngôi làng của Ramat (phiên âm), và vùng bệnh phong, Grafna (phiên âm).

Tôi không ngạc nhiên khi tôi không thể tìm thấy bất kỳ thị trấn nào trong số những thị trấn này trong tập bản đồ của Israel ngày nay. Nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng có một số lượng lớn các cộng đồng nhỏ trong khu vực đó mà tên của chúng (nếu chúng đã từng được ghi lại) vẫn chưa xuất hiện với chúng tôi, hoặc chúng có thể đã thay đổi qua nhiều thế kỷ. Người đàn ông Do Thái đã giúp tôi nghiên cứu cho biết tên của các thị trấn chắc chắn là của người Do Thái. Bar-el có nghĩa là ‘Giếng trời’, Beth-sharon (đã đề cập trước đó) có nghĩa là ‘Ngôi nhà của hoa hồng’. Ramat có nghĩa là ‘ngọn đồi’ và có lẽ đã có một từ khác trong tên. Anh ấy không thể xác định ngay được Grafna, ngoại trừ việc nói rằng nó chắc chắn mang âm hưởng của người Do Thái. Khi tôi kể những sự thật này với Anna, cô ấy nói rằng điều đó khiến cô ấy lạnh sống lưng. Cô biết những chi tiết này không xuất phát từ tâm trí tỉnh táo của cô, bởi vì cô không biết bất kỳ tiếng Do Thái nào, và không được tiếp xúc với nó trong đền thờ của cô (Đền thờ Do Thái Cải cách). Ban đầu tôi nghĩ rằng mọi người Do Thái sẽ tự động biết tiếng Do Thái, nhưng tôi cho rằng điều đó cũng phi logic như việc mong đợi rằng tất cả người theo đạo Công giáo sẽ biết tiếng Latin vậy. 

D: Nhưng cô chủ yếu ở trong một khu vực đó thôi? Có phải không?

A: Vâng. Tôi trở nên khó đi lại hơn. Và tôi đã dành hầu hết thời gian ở đây, nơi tôi được cần đến nhất.

D: Cô đã từng đến Nazareth chưa?

A: Tôi đã ở đó, vâng.

D: Nazareth trông giống như thế nào? Nó có phải là một thành phố lớn không? 

Tôi đang cố gắng so sánh mô tả của cô ấy với mô tả của Katie trong quyển Chúa Giê-su và người Essene.

A: Đó là một thị trấn có quy mô khá. Những con phố lộng gió và những tòa nhà quét vôi trắng. Một khu chợ trong cộng đồng cũ.

A: Nó tương tự nhưng nhỏ hơn. Tôi nhớ… tôi nhớ khu vực trung tâm nơi có chợ… và mọi người đến lấy nước. Để tôi xem. Và có một số ngọn đồi ở phía sau. Nhưng nó nhỏ so với thành phố khác.

D: Tôi đã thắc mắc liệu vùng quê mà cô phải đi qua có giống nhau không.

A: À, vùng nông thôn quanh đó. Nó là… Tôi nhìn thấy một số ngọn đồi. Tôi thấy… những con đường đầy bụi. Ồ, nó có thể là tương tự, vâng.

D: Tôi đã nghe tên một số nơi, và tôi tự hỏi liệu cô đã từng đến những nơi này trong những chuyến hành hương của mình chưa. Còn Capernaum thì sao? Cô đã bao giờ nghe nói về nơi đó chưa?

A: Vâng. Capernaum.

D: Nơi đó nằm gần đó phải không?

A: Đây có phải là… đã lâu rồi. Tôi nghĩ đây là bên ngoài, cách xa Jerusalem. Tôi nghĩ giàu có… Tôi nhớ một chủ đất giàu có ở đó, và có một số vấn đề. Nhưng thời gian của tôi chủ yếu dành cho những nơi tôi cần, và phục vụ trong khả năng mà tôi đã được đào tạo.

D: Còn sông Jordan thì sao? Cô đã bao giờ nghe nói về điều đó chưa?

A: Ồ, vâng! Sông Jordan, vâng. (Tạm dừng, như thể đang suy nghĩ). Điều này… Tôi nhớ khi tôi còn nhỏ, đi bộ ở khu vực này. Nó thật đáng yêu. Phải. (Đoạn này có vẻ như đang hồi tưởng).

D: Cô đã bao giờ nghe nói về một nơi gọi là Qumran chưa? 

Đây là nơi đặt cộng đồng bí mật và ngôi trường bí ẩn của người Essene, trên những vách đá phía trên Biển Chết.

A: À, vâng. (Cười khúc khích) Nazarene… Tôi đã nghe Nazarene nói điều này. Và tôi nhớ cha mẹ tôi đã nói về điều đó. Đó là một cộng đồng nơi các tín ngưỡng nhất định được tuân theo, và việc giảng dạy vẫn tiếp diễn. Và Nazarene đã dành thời gian ở đó.

Đó là sự xác thực khi cô ấy gọi Qumran là một cộng đồng. Nó luôn được gọi như vậy (ngay cả bởi các nhà khảo cổ học). Nó không bao giờ được gọi là thị trấn hay làng mạc.

D: Anh ấy có nói với cô về điều này không? 

A: Tôi nhớ chú ấy đã nói với tôi điều này, vâng. chú ấy nói với tôi khi chú ấy đang dạy tôi cách chữa bệnh và cách phục vụ.

D: Anh ấy đã nói gì với cô về thời gian ở đó?

A: Chú ấy nói với tôi rằng chú ấy đã được dạy về Cây Sự sống cổ xưa. Chú ấy nói với tôi rằng chú ấy đã học triết lý và chữa bệnh. Và chú ấy đã học được những điều mà người ta không được dạy trong nền giáo dục bình thường.

D: Đây có phải là loại cộng đồng nơi những thứ như thế được dạy không? 

A: Vâng. Và trong trường học ở đó. Nhưng tôi đoán cộng đồng này có một triết lý khác. 

D: Cô có nghĩ rằng đây có thể là nơi anh ấy học được nhiều thứ mà anh ấy đã sử dụng không?

A: Tôi tin rằng điều này là đúng, phải. Tôi tin rằng chú ấy cũng có thể rất giỏi trong việc tìm kiếm thông tin, mà những học trò khác có thể đã không tìm kiếm. Và có quyền truy cập vào tài liệu mà chỉ một số ít có quyền truy cập. Bởi vì chú ấy quan tâm hoặc khám phá ra những điều bên trong bản thân mà chú ấy đã thắc mắc.

D: Nghe như thể anh ấy được dạy những điều mà người bình thường không biết. Đó hẳn phải là một loại trường khác biệt.

A: Vâng. Họ đã học được cách sống kết hợp với vũ trụ và tính liên kết của vạn vật. Và con đường của Cây Sự Sống này.

D: Ý cô là gì khi nói về Cây Sự sống?

A: Cây Sự sống là bí ẩn cổ xưa mà một số người sẽ che giấu và không bao giờ dạy lại. Đền thờ sẽ không dạy điều này.

D: Tại sao lại không? Tôi luôn tìm kiếm tri ​​thức. Tôi không thể hiểu được việc mọi người che giấu nó.

A: Bởi vì họ sẽ bị mất kiểm soát nếu mọi người có thể tìm thấy sự thật trong chính họ. Hoặc có sự hiểu biết và tự học hỏi, cũng như duy trì được sức mạnh và niềm tin của chính mình vào sự liên kết với vạn vật và Nguồn – Chúa Trời của họ.

D: Tại sao họ lại coi Cây Sự sống là thứ mà mọi người không nên biết đến?

A: Bởi vì nó là sự thật. Nó là những con đường khác nhau của bản thể, cơ thể và linh hồn của một con người, và sự kết nối của nó với mặt trời và mặt trăng và thủy triều. Nó giải thích tại sao mọi thứ như vậy và chúng là gì.

D: Tôi nghĩ đây sẽ là những điều tuyệt vời để biết được.

A: Đây là những gì họ gọi là ‘Kaballah’. 

D: Ồ, tôi đã nghe từ đó. Phải mất một thời gian dài mới học được hết những điều đó.

A: Cần phải có sự tận tâm, vì không dễ dàng để tiếp thu được tất cả thông tin và học cách sử dụng nó trong cuộc sống hàng ngày của bà. Bà không thể truyền dạy thông tin này cho người bình thường, vì nó quá phức tạp. Vì vậy, bà phải học cách lọc điều này thành những cách đơn giản để bà có thể sử dụng nó trong cuộc sống hàng ngày và phụng sự theo cách này.

D: Anh ấy đã cố gắng dạy những tín đồ của mình một số điều này?

A: Tôi nghĩ chú ấy đã làm theo cách diễn giải của riêng mình để chúng tôi có thể hiểu được.

D: Ý cô là anh ấy đã làm nó trở nên không còn quá phức tạp nữa ư? Cô đã từng đến Qumran chứ?

A: Không, tôi không nhớ gì về việc ở đó, không.

D: Cô đã bao giờ nghe nói về Biển Chết chưa?

A: Vâng, tôi đã nghe nói về nó. Nó có một cái tên khác, nhưng tôi biết cái tên bà đang nói đến.

D: Cô đã nghe nó được gọi bằng tên gì?

A: (Do dự nhiều khi cô ấy cố gắng tìm ra cái tên). Nó là thứ gì đó… của Elot? Elot, có lẽ là Elot Stone… của Elot? Có một bãi biển mà tôi nhớ.

D: Tôi cũng đã nghe nó được gọi là Biển Chết và nhiều cái tên khác. Tại sao họ lại gọi nó như vậy, cô có biết không?

A: Tôi không biết tại sao nữa. (Cười) Tôi không nghĩ là mình nhớ. Biển Chết? Tôi thực sự không thể nhớ liệu tôi đã biết nó qua cái tên đó hay không, mặc dù nó nghe có vẻ quen thuộc, nhưng tôi không thể…

D: Không sao. Tôi chỉ tò mò về nó mà thôi. Đó là một số tên của những nơi mà tôi đã nghe nói đến. 

Sau đó, Anna nói khi tỉnh dậy rằng, là Naomi, cô biết những nơi này bằng những cái tên khác nhau, nhưng cô không thể nhớ chúng. Cô nghĩ rằng Biển Chết được gọi là một cái gì đó giống như ‘Hồ Asphalt’. Điều này khiến cô ấy lo lắng khi không thể nghĩ ra những cái tên chính xác. Nhưng điều đó hoàn toàn có thể hiểu được vì chúng tôi đang nói chuyện với một Naomi già nua, người mà có lẽ đã không thực hiện bất kỳ chuyến hành trình nào trong một thời gian khá dài. Tại thời điểm này trong cuộc đời, cô đã dành để phục vụ nhu cầu của những người bệnh phong.

Sau đó, tôi nghĩ đến mối liên hệ của nhân vật Lot trong Kinh thánh, người mà câu chuyện chắc chắn có liên quan đến Sodom và Gomorrah, những thành phố nằm chìm dưới nước của Biển Chết. Viên đá của Elot (Elot’s Stone) có thể ám chỉ đến huyền thoại tượng muối (Pillar of Salt). Đó là một khả năng. Hồ Nhựa Đường (Asphalt) cũng là một tên gọi khác của Biển Chết vì có một lượng lớn nhựa đường và hắc-ín nằm ở đó. Một tên cổ khác là Biển Lot.

D: Còn Bethesda thì sao? Cô đã bao giờ nghe nói về điều đó chưa?

A: Bethesda? Tôi nghĩ đây là cùng một khu vực. Đây dường như là một cộng đồng nhỏ hơn khác. Những cái tên này đều quá quen thuộc, nhưng tôi đã rời xa tất cả thị trấn và thành phố nhỏ lâu rồi.

D: Tôi đã nghĩ rằng cô có thể biết chúng qua nhiều cái tên khác nhau. Nhưng sau đó cô hầu như đã ở lại một khu vực đó. Cô đã bao giờ được làm việc cùng với nhiều tín đồ chưa?

A: Chủ yếu ngay sau cái chết của chú ấy, nhiều người trong số họ đã tản ra và đi theo con đường riêng của họ, chỉ vì sợ hãi cho mạng sống của họ. Họ đã sống trong nỗi sợ hãi trong nhiều năm và lại tiếp tục hoạt động dưới lòng đất. Tôi chỉ trở nên mạnh mẽ và (thở dài) lắng nghe tiếng nói từ bên trong và từ trung tâm trái tim của chính mình, và tiếp tục con đường của mình. Tôi cảm thấy rất buồn vì mọi người không hiểu chú ấy thực sự đang cố gắng làm gì. Đây là những người mà chú ấy đã cố gắng rất nhiều để tiếp cận, nhưng họ không thể tiếp nhận được sự thật về những lời dạy của chú ấy và về Đức Chúa Trời, cũng như về sự thao túng thông qua Đền thờ và chính phủ. Mọi người dễ dàng chấp nhận cuộc sống bình thường của họ hơn nhiều, bởi vì họ quá sợ thay đổi. Cách sống đó không đòi hỏi suy nghĩ hay thắc mắc gì, vì vậy họ sẽ cứ tiếp tục và tuân theo. Và bởi vì chú ấy sống vì sự thay đổi, ngay cả những người vì chú ấy lúc ban đầu cũng quay lưng lại với chú ấy, chỉ vì sợ hãi, để tồn tại. Tôi nghĩ rằng những lời dạy của chú ấy vẫn đang được một số tín đồ của chú ấy tiếp tục. Nhưng họ đang tiếp tục trong ẩn dật và rất lặng lẽ trong các cuộc họp ngầm riêng tư. Họ đã sống trong nỗi sợ hãi lớn.

D: Họ sợ ai đó sẽ đuổi theo họ phải không?

A: Vâng.

D: Vậy thì có vẻ như cô đang làm nhiều hơn những gì Chúa Giê-su muốn họ làm. Có phải không?

A: Đây là thông điệp cá nhân của tôi từ chú ấy. Và đây là nỗi buồn mà mọi người dường như không thể hiểu được. Chú ấy vẫn đang… dạy —ah, đôi khi rất khó nói chuyện. (Giọng cô ấy có vẻ già dặn và những từ ngữ thỉnh thoảng bị lè nhè). Chú ấy đang dạy về cuộc sống theo cách đơn giản nhất, theo cách chân thực nhất của nó. Đó là lý do tại sao chú ấy đã đi trên con đường của mình và giảng dạy.

D: Cô có nghĩ rằng hầu hết những tín đồ của anh ấy đã không ra ngoài và cố gắng giúp đỡ mọi người như cô đang làm không?

A: Khi họ có thể xuất hiện trở lại, nó đã rất yên tĩnh. Họ là nguồn gốc của sự sợ hãi đối với hầu hết mọi người, và người La Mã đã khiến mọi người chống lại họ. Người La Mã có tất cả quyền kiểm soát và quyền lực, vì vậy mọi người dễ dàng bị thao túng do sợ hãi.

D: Tôi thấy khó hiểu rằng tại sao họ lại sợ những người này.

A: Ồ, bởi vì họ có thể thực hiện một số giáo lý và có được những tín đồ. Và người La Mã có thể có điều gì đó để sợ hãi một lần nữa.

D: Có vẻ như họ sẽ không sợ nữa sau khi đã loại bỏ được nhân vật nòng cốt.

A: Những lời nói và lời dạy của chú ấy vẫn tồn tại, ngay cả khi chúng một lần nữa được dạy trong những buổi họp ngầm này. Nhưng hầu hết những người theo dõi chú ấy đều không xuất hiện trong một thời gian dài.

D: Vậy cô không có bất kỳ liên hệ nào với họ sao?

A: Tôi đã tiếp xúc với một số người đã giúp đỡ trong các ngôi làng, hoặc tôi sẽ gặp họ khi tôi đi hành hương.

D: Còn những người cô gọi là ‘môn đồ’ thì sao? Cô đã từng tiếp xúc với bất kỳ ai trong số họ chưa?

A: (Thở dài) Ồ, đã lâu rồi, nhưng, có ạ. Một số người trong số họ vẫn đang có các cuộc họp trong các dốc đứng gần Kinnereth. Và một số người trong số họ đang cố gắng giữ cho những lời của Nazarene tồn tại. Vì vậy, có một số người trong số họ đang tiếp tục.

D: Cô có thể nhớ tên của bất kỳ môn đồ nào của anh ấy mà vẫn đang làm điều đó không?

Tôi nhớ có Simeon (phát âm: Sim-e-on) và… (suy nghĩ) Abram (nghe giống A-from hơn). Có … Peter.

Điều này được nói rất chậm như thể cô ấy khó nhớ. Naomi giờ đã là một bà lão và những sự kiện này dường như đã xảy ra nhiều năm về trước.

D: Đó là những người chính mà cô đã…

A: (Bị gián đoạn) tôi nhớ đã gặp lại, vâng.

D: Cô có nghe nói về một trong những môn đồ của anh ấy được gọi là ‘Judas’ không?

A: Ồ, vâng. Người mà đã chống lại chú ấy?

D: Vâng, tôi nghĩ anh ấy là người mà mọi người thường nói đến.

A: Vâng, chúng tôi đã biết về anh ta trước khi bất cứ điều gì xảy ra.

D: Bọn cô đã biết sao?

A: Vâng. Tôi đã có linh ảnh về điều này. Vâng, chúng tôi đã biết về anh ta.

D: Cô có thể cho tôi biết về điều đó được không? Cô đã biết được những gì?

A: (Buồn bã) Chà, tất cả những gì tôi có thể nhớ lại là cuộc gặp cuối cùng với Nazarene, và linh ảnh của tôi. Và việc chú ấy đã nói với tôi linh ảnh của tôi là đúng như thế nào. Và chú ấy đã biết.

D: Cô nói rằng cô biết điều gì đó sẽ xảy ra với anh ấy.

A: Vâng, và chú ấy cũng biết điều đó. Chú ấy biết rằng có một người, và có khả năng là nhiều hơn một người, những người mà có thể bị thao túng bằng những đồng tiền và những lời hứa về sự giàu có và quyền lực, những người mà sẽ quay lưng chống lại chú ấy. Những người mà, khi bị uy hiếp đủ, sẽ tin người La Mã và có thể bị mua chuộc.

D: Thật khó cho tôi để hiểu được làm thế nào ai đó xung quanh anh ấy lại có thể như vậy.

A: À, chúng ta đều có ý nguyện riêng mà. Và nếu người ta cho phép nỗi sợ hãi giành quyền kiểm soát, thì họ không thể phân biệt đâu là sự thật. Vì vậy, nó là một phần trong kế hoạch cuộc đời của họ.

D: Cô đã gặp Judas chưa?

A: Tôi biết anh ta vào một thời điểm cách đây rất nhiều năm, khi tôi lần đầu tiên đi hành hương cùng với Nazarene.

D: Anh ta có để lộ bất kỳ dấu hiệu nào vào thời điểm đó rằng anh ta là người như vậy không?

A: Không. Tôi không có liên lạc cá nhân, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy như vậy vào thời điểm rất lâu trước đó.

D: Chuyện gì đã xảy ra? Anh ta đã làm gì?

A: Anh ta đã bị thuyết phục (thở dài) bởi người La Mã để giúp gây ra tranh cãi và thắc mắc về người làm phép lạ, về người đàn ông được gửi đến từ Đức Chúa Trời này. Anh ta khởi xướng những cuộc bạo loạn và anh ta khiến người dân trở nên bạo lực.

D: Ý cô là anh ta là một kẻ chủ mưu ư?

A: Vâng.

D: Có phải đây là khoảng thời gian mà Nazarene bị bắt không?

A: Vâng, và tất cả điều này đã được sắp đặt với sự giúp đỡ của anh ta.

D: Điều đó thật khó hiểu đối với tôi. Anh ta có nhận được gì khi làm việc đó không?

A: Có. Anh ta nhận được tiền của và đất đai.

D: Chuyện gì đã xảy ra với Judas? Anh ta vẫn còn sống chứ, hay cô đã bao giờ nghe thấy bất cứ điều gì về anh ta chưa?

A: Tôi đã nghe được nhiều câu chuyện khác nhau. Tôi nghe nói rằng anh ta đã bị sát hại. Và tôi nghe nói anh ta chỉ là… không thể sống với chính mình sau một thời gian, và tự sát. Tôi đã nghe rất nhiều điều.

D: Vậy là anh ta cũng không được hưởng tiền bạc hay đất đai, phải không?

A: Không, không thực sự được hưởng gì. Anh ta không thể đối phó với những gì đã xảy ra. Khi anh ta phải đối mặt với chính bản thân mình, nó đã vượt quá sức chịu đựng của anh ta.

D: Nhưng cô nói rằng Nazarene cũng thấy những linh ảnh rằng người đàn ông này sẽ làm tổn hại đến anh ấy theo một cách nào đó mà phải không?

A: Vâng. Chú ấy đã biết… chú ấy biết mục đích sống của mình là gì. Chú ấy biết tại sao chú ấy lại đến đây. Chú ấy biết khi nào thì chú ấy nên thăng thiên.

D: Vậy là anh ấy đã không cố gắng làm bất cứ gì về điều đó cả.

A: Chú ấy biết là có lý do của nó. Chú ấy biết đó là một phần của kế hoạch.

D: Vì vậy, anh ấy không cố gắng ngăn cản Judas bằng bất kỳ cách nào. Đó có phải là ý của cô không?

A: Vâng, đó là những gì tôi muốn nói. Chú ấy đã diễn lại kịch bản của cuộc đời mình, về mục đích cá nhân của chú ấy khi đến đây.

D: Như cô đã nói, đây hẳn phải là quyết định của Judas, ý nguyện của anh ta. Tôi nghĩ cô có thể đã nghe nhiều câu chuyện trong thời gian kể từ khi Nazarene chết. Tôi cũng đã nghe nhiều câu chuyện, và tôi không biết đâu là thật, đâu là giả.

A: (Cười) Tôi không biết liệu có ai trong số chúng tôi nghe được hay không.

D: Đó là lý do tại sao tôi muốn hỏi cô để xem liệu cô có thể đã nghe những câu chuyện tương tự như tôi đã nghe hay không. Cô đã từng nghe câu chuyện nào về sự ra đời của anh ấy chưa?

A: Vâng. Tôi nhớ bố mẹ tôi đã nói chuyện. Tôi còn quá nhỏ nên có những điều tôi thực sự không hiểu. Nhưng tôi biết mẹ chú ấy có nhiều con. Người ta cho rằng thông qua một phép mầu mà bà mới có thể mang thai một đứa trẻ như Giê-su. Nhưng nó đã xảy ra, và sau đó bà ấy sinh con một lần nữa. Mọi người đều nghĩ đó là một phép mầu. Nhưng (cười khúc khích) Tôi e rằng nó đã xảy ra theo cách nó thường xảy ra mà thôi. Và phép mầu thực sự nằm ở chính đứa trẻ, không phải ở việc đứa trẻ được sinh ra.

D: Đó có phải là câu chuyện duy nhất cô được nghe về sự ra đời của anh ấy không?

A: À. Mọi người dường như nghĩ rằng đó là một kiểu… giống như một kiểu thụ thai từ Đức Chúa Trời. Nhưng tôi tin rằng đây không phải là trường hợp đó. Họ đã cố gắng có con.

D: Cô nghĩ tại sao mọi người lại cố gắng làm cho nó giống như một sự thụ thai từ Đức Chúa Trời?

A: Tôi không biết. Tôi nghĩ đó là những ý tưởng do con người tạo ra, hoặc để thao túng và phục vụ mục đích quyền lực. Tôi không biết chắc chắn. Nhưng đây thực sự là một đứa trẻ kỳ diệu. Tuy nhiên, tôi nghĩ tất cả chúng ta có thể nói rằng chúng ta đều được thụ thai từ Đức Chúa Trời. Tất cả chúng ta đều là con cái của Đức Chúa Trời. Đã có những đứa trẻ đặc biệt khác.

D: Đó là những gì tôi đang nghĩ, bởi vì anh ấy quá đặc biệt, có lẽ họ đã tưởng rằng anh ấy hẳn phải được sinh ra một cách đặc biệt.

A: Vâng. Nhưng tôi biết có những người khác cũng đã bước đi trên trái đất này, với sự kết nối với Chúa, tình yêu và khả năng mà chú ấy đã có. Nhưng chú ấy thì… ồ, những ý tưởng do con người tạo ra về chú ấy!

D: Chà, đây là một số câu chuyện mà chúng tôi đã nghe, rằng anh ấy đã có một sự ra đời kỳ diệu.

A: (Cười) Phép mầu chính là việc bà ấy đã mang thai đứa trẻ khác thường này.

D: Vâng. Nhưng cô đã nói là cha của cô là anh trai của anh ấy, được sinh ra bởi một người phụ nữ khác. Có đúng như vậy không? Cha của cô là con trai của Joseph với một người khác? (Cô ấy ngập ngừng). Tôi có quyền biết không?

A: (Tạm dừng) của Joseph… vâng… bà nói, anh trai cùng cha khác mẹ?

D: Người mẹ là một người khác.

A: Vâng, vâng. Đúng vậy. 

D: Đây là trước khi ông ấy kết hôn với mẹ của Nazarene sao?

A: Vâng.

D: Vậy thì bố của cô sẽ già hơn một chút, tôi cho là vậy, phải không?

A: Ông ấy già hơn. Điều này đúng. Tôi nhớ điều đó.

D: Cô đã bao giờ gặp mẹ của Nazarene chưa?

A: Khi còn nhỏ, tôi nhớ đã gặp bà ấy, vâng. Đó là một ký ức mơ hồ. Nhưng bà ấy chỉ là một người phụ nữ mà thôi. (Cười)

D: Tôi e rằng trong những câu chuyện tôi đã nghe, người ta đã cố gắng hạ thấp người mẹ, chỉ vì bà ấy là mẹ.

A: Qua ký ức của tôi khi còn nhỏ, họ là những người rất đơn giản. Cuộc đời của họ khá là tương tự như những cuộc đời khác. Tôi không nhớ bất cứ điều gì bất thường về bà ấy. Nhưng đây là từ thời thơ ấu của tôi. Và bà ấy dường như giống với mọi phụ nữ khác thôi.

D: Còn Joseph thì sao? Cô đã từng gặp ông ấy chưa?

A: Tôi nhớ đã gặp ông ấy, nhưng đó là những ký ức mơ hồ. Và tôi đã gặp họ ở tại một ngôi làng nhỏ bình thường. Họ chỉ làm những việc hàng ngày mà thôi. Đây chỉ là cuộc sống hàng ngày của người ta. Bà ấy đã làm tất cả những điều tương tự. Tôi không thể nhớ lại bất cứ điều gì ngoài việc họ đang làm những gì mà mọi người khác cần làm để sống.

D: Hiển nhiên là vậy, cách đây đã một khoảng thời gian dài rồi mà. Cho đến giờ tôi vẫn đang nhờ cô nhớ lại. Nhưng không có bất cứ điều gì nổi bật như một sự khác biệt cả.

A: Không. Họ là những người tốt. Có lẽ họ đã có nhiều hơn một chút để… họ không nghèo. Nhưng họ chỉ là những người bình thường mà thôi. Giê-su theo đuổi niềm tin của mình theo cách mà chú ấy thấy phù hợp, nhưng cha mẹ của chú ấy thì vẫn tiếp tục nuôi dạy con cái và sống cuộc đời của họ.

D: Tôi cũng đã nghe nhiều điều về những phép mầu mà Nazarene đã thực hiện. Đã có tin đồn rằng anh ấy có thể đưa những người từ cõi chết trở về. Cô đã nghe những câu chuyện đó chưa?

A: Vâng. Tôi đã thấy những sự chữa lành. Tôi đã học được. Tôi biết rằng có những lúc một người có thể rất gần với cái chết, khi mà tất cả các dấu hiệu đã chậm lại đến mức họ có thể trông như vậy. Hoặc có thể trong vài phút ngắn ngủi họ đã ra đi. Có thể đưa họ trở lại nếu thực sự không phải thời điểm của họ. Và tôi đã thấy điều này.

D: Cô đã thấy anh ấy làm điều này chưa?

A: Tôi đã thấy chú ấy làm điều đó một lần, vâng.

D: Cô có thể kể cho tôi biết về kinh nghiệm đó không?

A: Tôi nhớ lại điều này khi tôi ở làng Bar-el. Chú ấy đang dạy tôi, và tôi được phép quan sát khi chú ấy đi từ nhà này đến nhà khác. Ở đó có một người đàn ông bị ốm và sốt. Và đó không phải là thời điểm của ông ấy, tôi đoán vậy. Tôi nhớ mình đã ở trong nhà của họ và nhìn thấy vợ của ông ấy. Và có một đứa trẻ. (Cô ấy trở nên xúc động). Và tôi biết… ồ, thật khó để tìm ra lời nói… (Khóc) nhưng còn hơn là nó đang diễn ra một cách vật lý thật sự nữa. Tôi biết rằng giữa sự chữa lành của Nazarene và sự tận tụy và tình yêu sâu sắc của người vợ, ông ấy đã được mang trở lại (*với sự sống). Tôi thấy Nazarene đã đặt tay lên người đàn ông này. Và tôi đã thấy người đàn ông này tỉnh lại. Tôi nhớ người vợ đã được bảo rằng đã đến lúc ông ấy chết, nhưng không phải vậy. Ông ấy đã được hồi sinh sau cơn sốt. (Khịt mũi) Tôi nghĩ đó là sự đào tạo và kiến ​​thức mà chú ấy có được về bản thân khi sống nối kết với Nguồn – Chúa Trời của vũ trụ, nằm trong trung tâm trái tim của một người. Tôi nghĩ chú ấy đã nhận thức được những gì có thể được thực hiện. Nhưng nó cũng liên quan đến sự thật và niềm tin vào sự chữa lành của người kia. Phải có một mong muốn để đi tiếp và tiếp tục trong cuộc đời này.

D: Cô có nghĩ rằng anh ta có thể làm điều này nếu một người đã thực sự chết trong một thời gian dài không?

A: Không. Tôi nghĩ người đó phải muốn được hồi sinh. Người đó phải cần làm điều gì đó nhiều hơn, ở đây, trong cuộc đời này.

D: Cô có nghĩ rằng đây có thể là phép màu vĩ đại nhất mà cô từng nghe về những việc anh ấy đã làm, đưa nhiều người từ cõi chết trở về không?

A: Tôi nghĩ… Tôi nghĩ điều này có thể là nó đấy. Nhưng đối với tôi để thấy những sự chữa lành khác và để làm cho một ai đó trở nên toàn vẹn hoặc mang lại niềm vui và tình yêu thương cho họ hoặc gia đình họ là như nhau. Để trao trở lại trái tim và linh hồn toàn vẹn. Nhưng tôi đoán đối với hầu hết đàn ông, phụ nữ, điều này có thể là nó (đưa người từ cõi chết trở về).

D: Tôi đã thắc mắc nó là gì, theo quan điểm của cô. Anh ấy đã làm rất nhiều điều tuyệt vời.

A: Vâng. Thật khó nói, đối với mỗi phép mầu mà chú ấy đã tạo ra cùng với sự giúp đỡ của người được chữa lành đó, việc được nhìn thấy khuôn mặt của những người thân yêu của người đó cũng là một phép mầu. Điều đó cũng quan trọng y như vậy. Điều đó cũng mang tính chữa lành như toàn bộ những điều còn lại vậy.

D: Vâng. Tôi nghĩ thật tuyệt vời khi cô được phép bầu bạn với anh ấy và học hỏi từ anh ấy. Điều này rất quan trọng. Và tôi nghĩ rằng cô cũng đã làm được nhiều điều theo cách của mình, thông qua việc giúp đỡ người khác.

A: Tôi đã cố gắng.

D: Và chia sẻ những lời dạy này với những người khác. Điều này rất quan trọng. Tôi nghĩ rằng cô cũng đã làm được rất nhiều điều với cuộc sống của mình, theo cách đó. Được rồi. Tôi muốn cô tiến tới ngày cuối cùng của cuộc đời cô trong kiếp sống đó. Cô có thể nhìn vào nó như một người quan sát nếu cô muốn. Nó sẽ không làm phiền cô chút nào khi cô nhìn vào nó và cho tôi biết những gì đã xảy ra vào ngày hôm đó. Sự thay đổi diễn ra ngay lập tức. Tôi đã không cần phải đếm.

A: (Thở dài) Tôi biết đã đến thời khắc của mình. Tôi nghĩ rằng tôi chỉ đang mệt mỏi và sẵn sàng để ra đi mà thôi.

D: Cô đã sống một cuộc đời khá dài, phải vậy không?

A: Vâng. Tôi nghĩ rằng có một số ít người mà tôi đã làm việc cùng có thể thay thế vị trí của tôi, sẽ hoạt động trong ngôi làng này và thực hiện cuộc hành hương và sẽ tiếp tục công việc. Nhưng tôi đã đi bộ ra ngoài làng để đến nơi mà tôi đi đến. Và tôi đang ngồi dựa vào một cái cây. Đây là nơi tôi thường nghĩ, cầu nguyện hoặc nói chuyện với Nazarene.

D: Ồ? Anh ấy vẫn nói chuyện với cô ở đó?

A: Vâng. Ồ, tôi có thể cảm nhận được chú ấy cho dù tôi đang ở đâu. Nhưng ở đây, tôi đi ra ngoài làng, và không hề bận tâm. Tôi có thể ngồi trong bình an, và thực sự cảm nhận được ánh sáng, sự ấm áp và ánh sáng tỏa ra. (Chậm rãi) Và vậy cho nên, chú ấy sẽ chào đón tôi đến cấp độ tiếp theo.

D: Hãy tiếp tục cho đến khi điều đó đã xảy ra rồi. Cô nhìn thấy gì?

A: (Cười) Tôi có thể làm được điều này. Điều này rất khác biệt. Tôi có thể nhìn thấy cơ thể của mình… (cười khúc khích) Tôi có thể thấy tôi chỉ dựa vào gốc cây của tôi, ngồi ở đó rất bình yên.

D: Đó là một cái chết bình an sao?

A: Vâng, có sự bình an ở đó. Tôi đã cảm thấy rất mỏi mệt. Tôi nhắm mắt lại, và bây giờ tôi đang đứng đây nhìn cơ thể mình. Nó xảy ra nhanh như vậy. Nó rất lạ, nhưng tôi cũng cảm thấy nó rất tuyệt vời.

D: Cô còn nhìn thấy gì nữa không?

Cô ấy đang cười, và tôi có thể cảm thấy hạnh phúc đang tỏa ra từ cô ấy.

A: Tôi thấy Nazarene đang vẫy gọi tôi. Tôi nghe chú ấy nói rằng tôi được chào đón. Và từ bây giờ đây là nhà của tôi. Và nhiều niềm vui và sự học hỏi sẽ chờ đợi tôi. Và tôi nhìn thấy con đường này trước mặt. (Cười) Dường như chúng tôi đang trong một chuyến hành hương khác vậy.

D: Cô đang đi xuống con đường sao?

A: Chú ấy nắm lấy tay tôi. Tôi cảm thấy như thể mọi thứ rất chậm, tôi đang di chuyển rất chậm. Có vẻ như tôi đang đi đến một ngôi làng khác ở phía xa. Đó là một cảm giác của việc trở về nhà và được ở nơi tôi phải ở. Nếu đây là cái chết, thì cái chết chỉ là một cuộc hành hương khác mà thôi.

D: Cô nghĩ gì về cuộc sống mà cô vừa rời khỏi của mình?

A: Ồ, tôi cảm thấy… tôi cảm thấy rằng tôi đã cố gắng làm tốt nhất có thể. Ôi, nhưng tôi đau, tôi đau cho con người, những con người trên thế giới này quá chậm chạp trong việc học hỏi và nhìn nhận sự thật.

D: Tôi nghĩ cô đã học được nhiều điều trong cuộc sống đó, phải vậy không?

A: Ôi, tôi thật có phúc trong cuộc đời đó. Tôi ngập tràn tình yêu và sự quan tâm, và Nazarene không bao giờ rời bỏ tôi. Tôi đoán anh ấy là người tôi yêu. Và tôi đoán đó là lý do tại sao tôi vốn không nên kết hôn. Vì tôi đã tràn ngập tình yêu và tri ​​thức, ý thức rằng tôi phải làm mọi việc một cách đơn lẻ để có thể hoàn thành tốt nhất có thể.

D: Nghe như thể đó đã là một cuộc sống tốt đẹp. Cô đã hoàn thành nhiều thứ. Cô có biết bây giờ cô đang đi đâu không?

A: Tôi chỉ biết rằng tôi sẽ đến một nơi mà tôi cảm thấy như là tổ ấm của mình, nơi tôi sẽ được học hỏi.

D: Điều đó có vẻ là rất tốt. Cô đã có một cuộc sống rất tốt, và tôi cảm ơn cô đã chia sẻ với tôi những kiến ​​thức mà cô có được trong cuộc sống đó. Tôi thực sự cảm kích điều đó rất nhiều.

A: Và tôi cảm ơn bà.

D: Được rồi. Chúng ta hãy rời khỏi cảnh đó thôi.

Tôi đưa Anna trở lại trạng thái tỉnh táo hoàn toàn, và Naomi thoái lui lần cuối cùng, không bao giờ được gọi lại nữa.

Nhiều tháng trôi qua, và khi tôi thỉnh thoảng nhìn thấy Anna, cô ấy nói rằng cô ấy thực sự tò mò về các chi tiết của buổi hồi quy. Cô cố gắng một cách chân thành, để nghe lại những đoạn băng nhiều lần, nhưng kỳ lạ thay, cô không bao giờ có thể nghe xa hơn. Cô không thể chấp nhận rằng những lời này là từ mình. Quá nhiều cảm xúc tiềm ẩn đã được khuấy động sâu trong cô. Những cảm giác này luôn buộc cô phải tắt máy ghi âm. Anna nói với rất ít người về sự hồi quy, chỉ có những người bạn thân mà cô ấy có thể tin tưởng, và ngay cả với những người này, cô ấy cũng kể một cách ngập ngừng và ít ỏi, cũng không bao giờ kể về trải nghiệm đầy đủ cả. Nó mang tính cá nhân một cách quá sâu sắc, để có thể mạo hiểm với nguy cơ bị chế giễu hoặc không tin tưởng, vì vậy cô ấy giữ kín nó trong lòng.

Sau vài tháng, tôi hỏi cô ấy rằng liệu cô ấy có cảm thấy thoải mái hơn khi đọc bản ghi chép không, vì cô ấy không thể chịu đựng được khi nghe chính giọng mình nói những điều này. Cô ấy háo hức làm điều này, bởi vì cô ấy tò mò muốn biết chi tiết. Tôi đưa cho cô ấy bản ghi chép trực tiếp lấy từ băng. Và cô ấy có thể đọc chúng vì chúng mang lại sự khách quan mà cô ấy cần. Nó loại bỏ mối liên hệ cá nhân trong giọng nói của chính cô ấy, và khiến nó giống như đọc một cuốn tiểu thuyết viễn tưởng. Nhưng ngay cả với sự khách quan này, câu chuyện về mối quan hệ của Naomi với Chúa Giê-su đã trở nên rõ ràng.

Khi Anna trả lại bảng ghi chép, cô ấy đính kèm một ghi chú ngắn gọn: “Bằng tất cả sự tồn tại của tôi, tôi cảm ơn vì đã trả lại cho tôi một phần của chính bản thân tôi. Một phần rất quan trọng trên con đường trở về nhà của tôi. Từ ngữ không thể diễn đạt hết được sự cảm kích của tôi. Bà thực sự đã làm tôi cảm động, và vì bà mà tôi đã trưởng thành.”

Anna không được đào tạo về nghệ thuật, nhưng cô ấy nói rằng thỉnh thoảng cô ấy có thể phác thảo hoặc vẽ những bức tranh đáng chú ý. Tâm trạng thường sẽ đến bất ngờ. Tài năng này có thể đến từ một tiền kiếp khác mà chưa được khám phá ra. Sau những buổi thôi miên này về mối quan hệ của Naomi với Chúa Giê-su, cô đã phác thảo bức tranh kèm theo một cách không thể giải thích được. Cô cho biết nó giống với hình ảnh của cô về Chúa Giê-su nhất có thể. 

Những ký ức về mối quan hệ của cô với Chúa Giê-su đã lùi sâu vào tiềm thức, và cuộc sống của hai người phụ nữ này trở lại bình thường. Nhưng tôi tự hỏi liệu họ có bao giờ thực sự bình thường trở lại hay không. Họ quay trở lại cuộc sống thường ngày của họ, và những sự hồi quy đã bị lãng quên. Đó là một phần chuyển tiếp thú vị (*giữa các giai đoạn trong cuộc sống) và không có gì hơn. Nó đã giúp Mary hiểu những vấn đề cô gặp phải liên quan đến đàn ông trong cuộc sống hiện tại. Tôi tin rằng nó cho phép cô ấy hiểu những cảm xúc này đến từ đâu, và chúng đã hạn chế cô ấy như thế nào. Cô phát triển mối quan hệ với một người bạn nam và đắm mình vào công việc kinh doanh vườn ươm của mình. Điều này và việc chăm sóc các con nhỏ của cô ấy đủ để giữ cho cô ấy hoàn toàn bận rộn.

Hình ảnh gương mặt Chúa Giê-su của Anna khi cô ấy tỉnh dậy từ trạng thái thôi miên

Anna bận rộn hơn bao giờ hết với cơ sở phục vụ bữa sáng của mình. Việc cô và chồng có được nhiều tài sản cho thuê hơn cũng khiến cô phải chú tâm hơn. Bất cứ lúc nào rảnh rỗi, cô ấy đều tình nguyện phục vụ tại một trung tâm tế bần, và tư vấn cho bệnh nhân và gia đình họ về cái chết. Bằng cách này, tôi tin rằng cô ấy đang cho phép tình yêu thương đầy quan tâm và không ích kỷ của Naomi dành cho những người bệnh và đang hấp hối được chảy trôi vào cuộc sống hiện tại của cô ấy. Những người khác đã nói với tôi rằng làm việc trong chương trình tế bần thường có thể gây trầm cảm, bởi vì sự tập trung vào việc tiếp cận cái chết. Nhưng Anna thấy hài lòng và được tưởng thưởng sâu sắc khi được phụng sự theo cách này. Cô cho biết cô đã thử làm công việc tình nguyện ở các lĩnh vực khác, nhưng không có gì khiến cô cảm thấy hài lòng như làm việc với những người mắc bệnh nan y. Cô đã tìm thấy vị trí thích hợp của mình trong công việc này.

Vì vậy, tôi tin rằng mối liên hệ với Chúa Giê-su vẫn còn sức ảnh hưởng trong cuộc sống của những người phụ nữ này, mặc dù ở mức độ tiềm thức chứ không phải mức độ mà họ sẽ dễ dàng thừa nhận. Tôi tin rằng họ đã xử lý những sự hồi quy này một cách trưởng thành và lành mạnh. Họ đã trả lại một phần lịch sử đã mất cho chúng ta, vì những ký ức về mối liên hệ này đã được ẩn giấu ở một góc khuất trong tiềm thức của họ. Tôi tin rằng mục đích cuối cùng của những sự hồi quy trong quyển sách này, và trong quyển Chúa Giê-su và người Essene, là trả lại Chúa Giê-su nguyên thủy ban đầu cho chúng ta. Để cho chúng ta được thấy ông ấy thực sự là gì. Tôi luôn cảm thấy rằng ông ấy phải có điều gì đó rất khác biệt và đặc biệt, để khiến cho những hành động của ông ấy chịu đựng được thử thách của thời gian. Nhưng tôi chưa bao giờ thực sự hiểu được điều đó là gì, cho đến khi những sự hồi quy này diễn ra.

Khi tôi ngồi trong phòng ngủ tối om và nghe người phụ nữ trên giường đang say mê kể lại câu chuyện này, tôi có cái nhìn thoáng qua về nhân cách thực sự của Chúa Giê-su, sức hút to lớn của một người đàn ông và sự dịu dàng tột độ. Tôi chưa bao giờ cảm thấy tình yêu như vậy phát ra từ một con người trước đây. Khi Mary và Anna kể về cuộc gặp gỡ của họ, tình yêu trong giọng nói của họ đã nói lên rất nhiều điều. Tôi ngồi đó trên ghế và để cho cảm giác to lớn này chảy tràn qua người, và tôi cố gắng tiếp thu nó như thể bằng cách thẩm thấu nó. Tôi cảm thấy như thể tôi cũng đang ở trong sự hiện diện của ông ấy, và tôi nhận ra tại sao ông ấy lại có tác động như vậy đối với mọi người. Bạn không thể nào ở trong sự hiện diện đó mà không yêu ông ấy cho được.

Trước khi bắt đầu viết cuốn sách này, tôi đã phát một phần đoạn băng cho một người đàn ông, và anh ấy rõ ràng cũng cảm động trước những lời nói của những người phụ nữ. Tôi thở dài và nói, “Bây giờ, làm thế nào để tôi có thể truyền tải được cảm xúc đó lên giấy đây?” Ông ấy trả lời, với một ánh mắt xa xăm, “Bà phải cố gắng.” Vì vậy, đó là những gì tôi đã làm. Tôi đã cố gắng để chuyển cảm xúc đó qua chữ viết trên giấy, xin thứ lỗi dù nó có thể là vậy. Tôi nghĩ bất cứ ai đã không từng có mặt ở đó thì sẽ không bao giờ đánh giá cao nhiệm vụ khó khăn mà tôi được giao này.

Tôi cảm thấy mình có được đặc ân tham gia vào những khoảnh khắc này trong lịch sử và tôi biết mình có nghĩa vụ phải cố gắng đưa chúng đến với nhân loại. Tôi hy vọng tôi đã thành công trong việc tiết lộ Chúa Giê-su là một con người hiền lành, chu đáo, người có thể phát triển và sử dụng những tài năng đang nằm yên bên trong tất cả chúng ta. Một người đàn ông có tình yêu thương vô hạn dành cho người Trái Đất.

Dolores Cannon, một nhà thôi miên hồi quy trị liệu kiêm nhà nghiên cứu tâm linh, người ghi chép lại những trị thức đã bị “Thất Lạc”, sinh năm 1931 tại St. Louis, Missouri. Bà được học hành và sống ở Missouri cho đến khi kết hôn vào năm 1951 với một người lính Hải quân. Bà đã dành 20 năm tiếp theo để đi du lịch khắp nơi trên thế giới với tư cách là một người vợ điển hình của Hải quân và nuôi nấng gia đình của mình. 

Vào năm 1968, bà ấy đã có cuộc tiếp xúc lần đầu với tiền kiếp thông qua thôi miên hồi quy, khi chồng của bà, một người thôi miên nghiệp dư, tình cờ gặp được tiền kiếp của một người phụ nữ có vấn đề về cân nặng mà ông ấy đã làm việc cùng. Vào thời điểm đó, “tiền kiếp” là đề tài không chính thống và rất ít người làm thử nghiệm trong lĩnh vực này. Nó khơi gợi sự quan tâm của bà ấy, nhưng phải được gác lại vì nhu cầu của cuộc sống gia đình đã được ưu tiên hơn. 

Vào năm 1970, chồng bà ấy giải ngũ, vì là một cựu chiến binh tàn tật, và họ nghỉ hưu ở đồi Arkansas. Sau đó, bà bắt đầu sự nghiệp viết văn của mình và bắt đầu bán các bài báo của mình cho nhiều tạp chí và tờ báo khác nhau. Khi các con của bà bắt đầu cuộc sống riêng, niềm yêu thích của bà với thôi miên hồi quy và luân hồi đã được đánh thức một lần nữa. Bà đã học nhiều phương pháp thôi miên khác nhau và do đó, đã phát triển được kỹ thuật độc đáo của riêng bà, giúp bà có được thông tin tiết lộ hiệu quả nhất từ các đối tượng được thôi miên của mình. Từ năm 1979, bà đã thu hồi và lập danh mục những thông tin đã thu thập được từ hàng trăm tình nguyện viên. Năm 1986, bà đã mở rộng các cuộc điều tra của mình sang lĩnh vực UFO. Bà đã thực hiện các nghiên cứu tại chỗ về các vụ hạ cánh nghi ngờ là từ UFO, và đã điều tra các Vòng Tròn Hoa Màu (Crop Circle) ở Anh. Phần lớn công việc của bà trong lĩnh vực này là thu thập bằng chứng thông qua việc thôi miên từ những người được nghi ngờ rằng đã bị bắt cóc.

Những quyển sách đã xuất bản của bà bao gồm: Những cuộc đối thoại với Nostradamus Tập I, II, III – Chúa Giê-su và người Essene – Họ đi cùng Chúa Giê-su – Giữa cái Chết và sự Sống – Một linh hồn nhớ về Hiroshima – Người Trông Nom Trái Đất – Di sản từ những vì Sao – Truyền thuyết về sự sụp đổ của vì Sao – Những Người Canh Giữ.

Một số quyển sách của bà hiện đang có sẵn bằng các ngôn ngữ khác nhau. 

Dolores Cannon có bốn người con và mười hai đứa cháu, những người giữ cho bà được cân bằng ổn thỏa giữa thế giới “thực” là gia đình bà, và thế giới “vô hình” là công việc của bà. 

Nếu bạn muốn trao đổi với Dolores Cannon về công việc của bà ấy, bạn có thể viết thư cho bà ấy theo địa chỉ sau đây. (Vui lòng gửi kèm theo một phong bì có dán tem ghi rõ địa chỉ để bà ấy trả lời.) Bạn cũng có thể trao đổi qua Trang Web của chúng tôi.

Dolores Cannon

P.O. Box 754

Huntsville, AR 72740

Nhà Xuất Bản Ozark Mountain 

WWW.OZARKMT.COM

ĐỂ LẠI NHẬN XÉT

Please enter your comment!
Please enter your name here