Họ đã dạo bước cùng Chúa Jesus – Chương 8 Ngôi Làng ở vùng Biển Hồ Galilee.

0
22

Tuần sau, khi chúng tôi bắt đầu buổi thôi miên, tôi đưa Anna (là Naomi) trở lại thời điểm cô ấy đang đi cùng với Chúa Giê-su.

D: Chúng ta hãy quay trở lại thời điểm khi cô rời làng phong cùng Nazarene và những người còn lại trong nhóm, trong chuyến hành trình đầu tiên mà cô thực hiện cùng với anh ta. Cô đang đi đến một ngôi làng khác, nơi mà cô nói rằng Giê-su sẽ gặp một số tín đồ khác của anh ta. Tôi sẽ đếm đến ba và chúng ta sẽ ở đó. 1… 2… 3… chúng ta đang đến ngôi làng thứ hai trong chuyến du hành của cô với Nazarene. Cô đang làm gì vậy?

A: Chúng tôi đang vào một ngôi làng trên hồ. Hồ Kennaret (phiên âm), và chúng ta có một cuộc họp của những tín đồ, những người tin vào lối sống này, những lời dạy này. Theo những gì tôi hiểu thì việc ở lại đây của chúng tôi chủ yếu nhằm mục đích truyền bá thông tin và củng cố số lượng của chúng tôi.

Tôi viết tên hồ theo phiên âm. Sau đó, khi tôi có cơ hội xem bản đồ ở phía sau cuốn Kinh thánh của mình, tôi tìm thấy Hồ Kinnereth, còn được gọi là Biển Gennesaret hoặc Chinnereth, rất khớp với cách viết phiên âm của tôi. Tôi nghĩ điều này là đáng chú ý. Đó là một tên Do Thái cho Biển Hồ Galilee. Tôi chưa bao giờ biết đến hồ này bằng một cái tên nào khác. Trong nghiên cứu của mình, tôi nhận thấy rằng trong tiếng Do Thái và tiếng Aram, từ “yam” có thể có nghĩa là cả biển và hồ, và bản dịch Kinh thánh bằng tiếng Hy Lạp cũng bắt chước điều này.

Anna đã nghi ngờ về tính hợp lệ của những thông tin kỳ lạ đến từ tiềm thức của cô trong những buổi thôi miên này. Sau khi tôi phát hiện ra điều này, tôi đã nói với cô ấy về nó, và cô ấy cũng không nhận ra cái tên Kinnereth. Tôi nói với cô ấy đó là tên cũ của Biển Hồ Galilee. Cô ấy bèn hỏi với một vẻ mặt nghiêm túc, ‘Biển Hồ Galilee là gì vậy?’ Điều này hoàn toàn bất ngờ. Tôi thoáng sững sờ, vì tôi nhận ra tầm quan trọng của câu hỏi của cô ấy. Mọi tín đồ Cơ đốc giáo đều biết địa danh trong Kinh thánh này vì nó gắn liền với cuộc đời của Chúa Giê-su. Không nghi ngờ gì, điều này cho thấy rằng Anna thậm chí còn không có kiến ​​thức sơ lược về cuộc đời của ông ấy hoặc về Kinh Tân Ước. Khi tôi giải thích điều đó với cô ấy, cô ấy cảm thấy tốt hơn vì nó dường như cung cấp bằng chứng cần thiết mà cô ấy cần để thuyết phục chính mình rằng thông tin này chắc chắn không phải do cô ấy nghĩ ra.

D: Người dân trong thị trấn phần lớn là tín đồ, hay cô cũng sẽ phải giữ bí mật cả ở đây nữa?

A: Có một nhóm quy mô lớn ở đây. Chúng tôi phải giữ im lặng kha khá, nhưng chúng tôi có thể cảm thấy an toàn. Đây là một thị trấn nhỏ hơn, và có vẻ như những người sống ở đây suy nghĩ rất giống nhau. Vì vậy, chúng tôi có thể cảm thấy an toàn ở đây.

D: Không có nhiều nguy hiểm khi họp mặt công khai phải không?

A: Không, bởi vì dường như có một sự thấu hiểu ở đây. Bề ngoài họ chỉ là một thị trấn nhỏ, nhưng họ rất thận trọng với những lời dạy.

D: Có ai cho cô biết tên của thị trấn này không, hoặc là, nó có một cái tên chứ?

A: Đây là ngôi làng trên Hồ Kinnereth.

D: Đó là tất cả những gì cô biết sao? Có một địa điểm nhất định nào đó trong ngôi làng mà cô sắp đến không?

A: Vâng. Có một khu vực bên hồ. Đầu tiên chúng ta sẽ đi thanh tẩy mình sạch sẽ trong hồ. Việc thanh tẩy này cần thiết cho cả cơ thể và tinh thần. Trên một phần của bờ hồ có những dốc đứng rất nhỏ. Và nội trong những dốc đứng (*bluffs) nhỏ này là những phòng họp. Chúng không được mọi người biết đến, vì chúng có những mặt tiền giả. Đây là nơi chúng tôi sẽ đến họp mặt, nhưng có vẻ như chúng tôi sẽ ở trên bờ hồ.

(*Bluffs: dốc đứng)

Sau đó, tôi đã nghiên cứu về khu vực này gần Biển Hồ Galilee. Có nhiều nơi núi non và dốc đứng trùng điệp xuống tận mép hồ. Điều này đặc biệt đúng với Magdala (quê hương của Mary Magdalene), nơi con đường ven biển uốn lượn dọc theo một sườn núi dốc. Trong khu vực Arbeel có những hang động có lịch sử là nơi ẩn náu của tội phạm hoặc nơi ẩn náu chính trị dưới thời Chúa. Một số trong số này là hang động tự nhiên được mở rộng để làm nơi ẩn náu, và một số thì cao trên dốc đến nỗi binh lính hầu như không thể tiếp cận được.

Trong thời kỳ của Chúa Giê-su, Galilee là một trong những vùng nông nghiệp màu mỡ nhất trên Trái đất. Vào khoảng năm 680, vùng Biển Galilee sở hữu những khu rừng lớn. Nhưng những cây ăn trái được sử gia Josephus ca ngợi nay đã héo tàn thành những tàn tích cũ. Hầu hết các khu rừng đã biến mất, và được thay thế bằng tình trạng sa mạc thưa thớt ở nhiều nơi. Vào thời Chúa Giê-su, thung lũng có khí hậu nóng, ảm đạm xung quanh hồ, vì gió biển bị núi chặn đứng. Vào mùa đông, những ngọn đồi và bờ biển sẽ xanh tươi, nhưng vào mùa hè kéo dài, sự khô cằn chán nản bao trùm lên mọi thứ.

Người ta đã chứng minh rằng mọi người có thể đi bộ từ Jerusalem đến Biển Hồ Galilee trong ba ngày. Thung lũng sẽ được tránh vào mùa hè vì nhiệt độ quá cao. Việc đi xa thường chỉ được thực hiện vào mùa đông và đầu mùa xuân khi khí hậu ấm áp và có thể ngủ ở ngoài trời. Vào tất cả các mùa, Thung lũng Jordan có thể là một con đường được chuộng bởi những người không muốn bị nhìn thấy trong thị trấn, vì sợ chính phủ hoặc vì những lý do khác.

Kinh thánh nói rằng Cana, ở Galilee, là một trong những nơi yêu thích của Chúa Giê-su. Các nhà sử học cho rằng Cana thích hợp làm trung tâm cho bất kỳ ai muốn tổ chức các cuộc nổi dậy, nhưng có những kẻ thù hùng mạnh ở các thị trấn lớn hơn, và do đó không thể biến bất kỳ nơi nào thành nơi ở lâu dài. Đây sẽ là một lý do khác cho sự lang bạt của Chúa Giê-su. Sẽ rất nguy hiểm nếu ở bất cứ đâu quá lâu, trừ phi ông ta biết chắc chắn rằng mình sẽ an toàn ở đó.

Những giai thoại về thành tích của ông ấy nhanh chóng lan ra khỏi Galilee, rộng khắp toàn Palestine. Điều hiển nhiên là Galilee có mối liên hệ chặt chẽ với tất cả các vùng của Palestine, do đó thông tin về Chúa Giê-su nhanh chóng đến được mọi nơi trên đất nước. Vì vậy, những người nắm quyền ở Jerusalem đã được thông báo về các hoạt động lật đổ này, nhưng họ cảm thấy không cần phải ngăn chặn ông ấy chừng nào ông ấy vẫn còn cách xa các thành phố lớn hơn. Hoặc trừ khi rõ ràng là ông ấy đang truyền cảm hứng cho một cuộc nổi loạn.

 

Nghiên cứu tiết lộ rằng có hàng trăm thị trấn nhỏ và làng mạc trong khu vực này không được lịch sử ghi lại – hoặc ít nhất là đề cập về chúng đã không được truyền lại cho chúng ta. Có nhiều thành phố lớn tồn tại vào thời Chúa Giê-su chưa bao giờ được đề cập trong Kinh Thánh, do đó không có gì ngạc nhiên khi những thành phố nhỏ hơn đã biến mất khỏi tầm mắt và các bản ghi chép. Tôi tin rằng mô tả lịch sử này về Thung lũng Jordan và Biển Hồ Galilee hoàn toàn phù hợp với những địa điểm được Naomi mô tả.

D: Tôi tưởng cô đang đi đến nhà ai đó.

A: Tôi nghĩ vì sự an toàn, họ thấy tốt nhất nên làm theo cách này. Bà thấy đấy, khi bà chỉ có một số ít người, bà có thể làm được điều đó. Nhưng có một nhóm lớn ở đây.

D: Tôi tưởng cô đã nói với tôi rằng John đi trước và sắp xếp điều này chứ?

A: Vâng. Tôi nghĩ rằng khi họ bắt đầu những cuộc hành trình của mình, họ đã có một khái niệm khá tốt về việc mỗi cuộc hành trình sẽ đưa họ đến nơi nào. Thỉnh thoảng họ có thể đi chệch khỏi con đường của mình lúc này hay lúc khác, tùy thuộc vào tầm quan trọng. Nhưng John thường chuẩn bị sẵn mọi thứ, vì vậy mọi thứ sẽ diễn ra suôn sẻ và an toàn nhất có thể.

D: Vậy bọn cô sẽ gặp nhau tại một trong những căn phòng trên giốc đứng. Khi nào cuộc họp sẽ diễn ra vậy?

A: Có vẻ như cuộc họp này sẽ diễn ra vào sáng sớm mai. Tối nay chúng ta sẽ thư giãn, và sẽ gặp nhau vào buổi bình minh.

D: Cô có gặp vấn đề gì về việc lấy thức ăn để ăn không?

A: Không. Chúng tôi được cung cấp thức ăn và chúng tôi mang theo một số lương thực nhất định. Chúng tôi cố gắng không trở thành gánh nặng cho bất kỳ ai. Chúng tôi nhận bất cứ món quà nào họ muốn tặng, dưới dạng thức ăn và nơi ở, nhưng chúng tôi có thể tự lực.

D: Vậy thì chúng ta hãy chuyển đến buổi sáng khi cuộc họp diễn ra, và cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra nhé.

A: Chúng tôi đang được dẫn vào căn phòng này. Và họ đã phủ lên mặt tiền của một trong những dốc đứng này bằng một số viên đá và một số cây cối. Họ đã hoàn thành một công việc rất tốt. Và vì vậy tôi thấy dốc đứng này mở ra. Có một số thảm rơm trên sàn, và có đèn nến. Và… có một số ghế dài và bàn bằng gỗ. Nhóm dường như có quy mô khá tốt. Tôi có thể thấy xấp xỉ khoảng bốn mươi người. Và thật tốt, tôi thấy có sự pha trộn giữa nam và nữ.

D: Phòng sẽ chứa tất cả chúng mà không bị chật chội sao?

A: Vâng, đây là một căn phòng lớn.

Phần lối vào là một sự đánh lạc hướng… nhưng người ta bước vào và đó là một căn phòng lớn. Họ đã bảo vệ nó, nâng đỡ nó bằng các vật liệu khác nhau để đảm bảo nó được an toàn. Có vẻ như có một hành lang nhỏ, và có thể một số phòng nhỏ khác ở bên cạnh. 

D: Đó là một dạng hang động tự nhiên hay…?

A: Vâng. Có vẻ như họ vừa dọn sạch đất cát tích lũy. Và sau đó là một… tự nhiên và… có vẻ như có thể có một vài căn phòng nhỏ hơn ở đó.

D: Có lẽ không có bất kỳ cửa sổ nào, nhưng có những ngọn nến.

A: Đúng vậy. 

D: Và đây là tất cả những người đã đến để nghe anh ấy nói. Cô có thể cho tôi biết điều gì xảy ra không? Họ có bất kỳ loại nghi lễ hoặc thủ tục nào mà họ phải trải qua không?

A: Người phụ trách cuộc họp này tỏ ra rất quan tâm đến quyền lợi của Nazarene. Bởi vì họ đang nhận được ý kiến ​​từ những người đưa tin rằng những lời dạy của chú ấy đang được truyền bá rộng rãi. Và chính phủ đang trở nên… khó chịu.

D: Họ không thích sự nổi tiếng của anh ấy sao?

A: Vâng. Hoặc họ không thích ý tưởng rằng mọi người có thể tự suy nghĩ và lựa chọn con đường cho riêng mình. Có những người không thích chú ấy lắm, cả trong Đền thờ lẫn trong chính phủ. Vì vậy, nhóm này chỉ đang nói về mối quan tâm của họ, và cách để tiếp tục công việc của chú ấy. Nhưng chú ấy đứng dậy và chú ấy nói, và chú ấy nói rằng họ đừng sợ, vì chú ấy đang đi con đường do Đức Chúa Trời chỉ dẫn, con đường của trái tim chú ấy. Và chú ấy không sợ gì cả. Nỗi sợ hãi duy nhất mà chú ấy có là không thể dạy và chạm vào tất cả những người mà chú ấy cần chạm đến trong kiếp sống này của mình. Điều này được nói chậm rãi với những khoảng nghỉ, như thể cô ấy đang nghe anh ấy nói những từ đó và sau đó lặp lại chúng với tôi bằng những cụm từ đứt quãng.

A: Không. Nó sẽ không tạo ra bất kỳ sự khác biệt nào trong những gì chú ấy làm với cuộc sống của mình, bởi vì chú ấy biết rằng chú ấy đi cùng với Chúa. Và Chúa phát triển từ bên trong. Ánh sáng vĩnh cửu ấy không chỉ ở trong Đền thờ, mà ánh sáng vĩnh cửu ở trong tim. Và ngọn lửa vĩnh cửu đó không bao giờ tắt, cho dù người ta rời bỏ bản thể vật chất. Vì vậy, chú ấy sẽ tiếp tục đi và truyền dạy những gì chú ấy tin là đúng. Chú ấy sẽ dạy những gì chú ấy tin là lý do tồn tại của chú ấy. 

Ánh sáng vĩnh cửu được nhắc đến là ánh sáng không bao giờ tắt nằm trong tòa nội cung của Đền thờ.

D: Nhưng dù sao thì họ cũng muốn cảnh cáo anh ấy.

A: Vâng. Có vẻ như căng thẳng đang gia tăng, và thỉnh thoảng chúng tôi lại nghe thấy loại tin đồn này. Và sau đó mọi thứ lắng xuống trong một thời gian. Và, bà biết đấy, chính phủ rất hay thay đổi. Nếu họ quá lo lắng, họ sẽ đưa ra một mức thuế mới.

D: (Cười) Đó là câu trả lời của họ.

A: Vâng, đó là cách làm tổn thương và thao túng của họ. Nếu có điều gì đặc biệt xảy ra, hoặc nếu đã thắng lợi trong một trận chiến, họ sẽ bận tâm. Mọi thứ sẽ lắng xuống, bởi vì trọng tâm sẽ là thứ khác.

D: Và các tu sĩ chỉ làm theo những gì chính phủ nói thôi phải không?

A: Các tu sĩ? Các tu sĩ khác với các giáo sĩ Do Thái. Các tu sĩ La Mã, vâng. Các giáo sĩ Do Thái làm những gì họ phải làm để tồn tại, nhưng họ không làm cho chính phủ, cũng không làm vì Nazarene. Vì thế…

D: (Cười) Giống như là họ ở giữa vậy. Có thể họ nghĩ rằng đó là vị trí an toàn nhất. Chà, còn có sự chuẩn bị nào khác không, hay anh ấy sắp diễn thuyết rồi?

A: Chú ấy đang diễn thuyết bây giờ. Và… chỉ là nói lên trái tim mình mà thôi. Chú ấy sẽ chỉ nán lại đây một thời gian ngắn và ngôi làng này dường như là một mối liên hệ. Có vẻ như có rất nhiều tín đồ thực sự ở đây, những người sẽ nhận được nhiệm vụ của họ và đi trên con đường riêng của họ. Vì vậy, đây là một nơi trú ẩn an toàn, một chút thư giãn, giao tiếp, và sau đó lại quay trở ra ngoài kia. Nhóm này dường như có thể truyền bá giáo lý của chú ấy, nhưng họ cũng có thể xâm nhập vào các khu vực khác và được chấp nhận như là người La Mã hoặc như là bất cứ thân phận nào mà họ cần để bảo vệ người thầy của mình.

D: Vậy thì đây là những người hiểu biết về giáo lý của anh ấy, vì vậy anh ấy không cần phải giải thích nhiều cho họ.

A: Đúng vậy ạ. Đây là những tín đồ, những tín đồ tận tâm.

D: Vậy thì những gì anh ấy nói với họ chủ yếu là những điều anh ấy muốn họ làm phải không?

A: Vâng. Nhưng họ cũng có thời gian để cầu nguyện và giao tiếp, và các bài học không bao giờ kết thúc. Họ có sự tương tác theo cách đó.

D: Tôi đã tự hỏi liệu có điều gì quan trọng mà anh ấy nói với họ mà cô chưa biết không?

A: Ồ, không, tôi đoán chú ấy chủ yếu chỉ trấn an họ rằng họ không nên sợ hãi. Dù bất cứ điều gì xảy ra, thì đó cũng là một phần lý do tồn tại của chú ấy. Và bất cứ điều gì xảy ra trong cuộc sống của chú ấy hoặc xảy ra đối với chú ấy, thì dưới bề mặt của những sự việc đó, bao giờ cũng là một bài học để học cả. Chú ấy cũng đang cố gắng nhắc nhở họ tìm thấy sức mạnh nơi Đức Chúa Trời bên trong họ, nhìn thấu tâm can mình, và phụng sự những người đàn ông và phụ nữ quanh mình.

D: Anh ấy ăn mặc như thế nào khi đi trên chuyến hành trình này?

A: Áo choàng thông thường ạ.

D: Có bất kỳ màu sắc nhất định nào không?

A: Ồ, màu sắc rất đơn giản. Chủ yếu là vật liệu thuộc da. Thỉnh thoảng có một đường sọc này xuyên qua mép quần áo, mũ trùm đầu, tay áo và viền áo. Nhưng ngoài vậy ra thì nó rất đơn giản thôi.

D: Vậy ít nhiều anh ấy mặc giống như mọi người còn lại thôi phải không?

A: Ồ, vâng.

D: Nhưng tất cả họ đều họp ở đó hôm nay để quyết định xem họ sẽ làm gì và nhận chỉ dẫn của họ, có thể nói như vậy.

A: Vâng. Và để cho chú ấy biết về những tiến bộ đang đạt được. Cho nên, nó chỉ có vậy.

D: Họ đã đạt được những tiến bộ nào vậy? Có gì đặc biệt không?

A: Có vẻ như họ đi theo nhóm nhỏ của riêng mình. Và nếu họ nghe nói về một nơi nào đó có thể có hứng thú với những lời dạy, họ sẽ đi tìm khu vực đó. Hoặc nếu có ai đó cần giúp đỡ, hoặc gặp nhiều bất công, họ sẽ đến đó. Họ tìm cách sử dụng thế lực ngầm hoặc giúp đỡ mọi người bằng bất cứ cách nào họ có thể.

D: Vậy họ làm nhiều hơn là chỉ truyền bá giáo lý mà thôi.

A: Vâng. Bởi vì một trong những lời dạy chính là yêu thương những con người quanh mình và đối xử với họ như cách người ta muốn được đối xử. Điều này bị thực hành sai rất nhiều.

Rõ ràng là Chúa Giê-su đã dạy các tín đồ của ngài thực hành việc phụng sự người dân, cũng như truyền bá những lời dạy của ngài. Điểm này cũng được đưa ra trong quyển Chúa Giê-su và những người Essene – rằng trái ngược với phiên bản Kinh thánh, ông ấy khuyến khích những tín đồ của ông rời bỏ ông ấy và ra ngoài một mình. Họ đã không đợi cho đến sau khi ông qua đời. Ông ấy đã làm điều này để họ không trở nên phụ thuộc vào ông ấy.

D: Anh ấy sẽ ở đó, trong ngôi làng đó một thời gian chứ?

A: Tôi nghĩ chú ấy muốn ở lại thêm một đêm nữa, nhưng chú ấy cảm thấy rằng chúng tôi nên rời đi, vì vậy chúng tôi sẽ sớm rời khỏi ngôi làng này.

D: Sau đó không có gì quan trọng khác đã xảy ra ở ngôi làng đó sao?

A: Không, chỉ là bà nên hiểu rằng họ thực sự đã truyền bá được giáo lý. Họ luôn tỏ ra rằng họ ra ngoài để làm điều đó, nhưng họ còn làm những việc khác nữa. Họ có thể sử dụng điều đó hoặc những thứ khác như một thứ ngụy trang cho bất cứ điều gì cần phải làm, nhưng họ luôn sống theo những lời dạy.

D: Cô có biết anh ấy sẽ đi đâu tiếp theo không?

A: Có vẻ như có một thị trấn khác. Họ đã nói với tôi … Giberon? (phiên âm)

Từ điển Kinh thánh liệt kê hai nơi nghe như thế này: Gibeah. một thành phố ở đất nước của những vùng đồi Juda, và Gibeon, một thành phố hoàng gia của người Canaanite. Có vẻ như Gibeah sẽ trùng khớp chính xác hơn với mô tả về khu vực họ đang đi qua.

A: Có vẻ như có nhiều tín đồ ở đó hơn, nhưng họ chỉ mới bắt đầu trên con đường của mình. Dường như bất cứ nơi nào chú ấy đi đến, chú ấy đều cố gắng làm bất cứ điều gì mà những người này đang cần, bằng sự chữa lành, những lời dạy. 

D: Và những người ở ngôi làng ven hồ là những tín đồ cấp tiến hơn. Điều đó có đúng không?

A: Vâng.Nhưng ngay cả khi ở đó, chú ấy vẫn ở đó để phục vụ và giúp đỡ những người tìm kiếm chú ấy. Nhưng có vẻ như không có gì xuất hiện trong cuộc họp mặt này. Tôi nghĩ hiện tại họ đang làm khá tốt. Tôi không nghĩ rằng có bất kỳ biến động hay đau khổ nào xảy ra.

D: Vậy thì mọi thứ đang hoạt động theo cách mà nó nên hoạt động ở ngôi làng đó. Và ở ngôi làng tiếp theo, có những tín đồ ít nhiều chỉ vừa mới bắt đầu và họ không chắc về bản thân mình. Điều đó có đúng không? 

A: Vâng. Và ngôi làng tiếp theo này có vẻ lớn hơn một chút. Tôi đoán bà có thể gọi làng Biển Hồ Kinnereth chỉ là một thuộc địa nhỏ. Và đây là một nơi lớn hơn mà chúng tôi sẽ đến.

D: Sẽ mất nhiều thời gian để đến đó sao? 

A: Tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể đến đó vào buổi tối, chú ấy nói. Hoặc là sáng sớm ngày tiếp theo. 

D: Vậy thì nó không xa lắm nhỉ. John cũng đã sắp xếp mọi thứ tại ngôi làng đó sao?

A: Tôi đoán là anh ấy đã sắp xếp. Vâng.

D: Có phải John đi trước cô, và cô sẽ không gặp anh ta cho đến khi cô đến đó, hay điều đó được thực hiện như thế nào?

A: Đôi khi nó sẽ diễn ra như vậy. Tôi có thể nói là thường xuyên như vậy. Nhưng có những trường hợp, anh ấy sẽ quay lại để chuyển hướng chúng tôi đi nơi khác, hoặc cho chúng tôi biết nếu có bất kỳ thay đổi nào.

D: Rồi anh ấy thực sự đi trước và sắp xếp mọi thứ à?

A: Vâng, và sau đó chúng tôi gặp lại anh ấy khi chúng tôi ở đó.

D: Chúng ta hãy tiến về phía trước khi cô đến ngôi làng tiếp theo, và cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra nhé. Cô đã nói đó là một ngôi làng lớn hơn phải không?

A: Vâng. Tôi nhìn thấy một cái giếng ở trung tâm của một quảng trường lớn. Và có một khu vực rộng lớn, nơi mọi người đến và lấy nước. Vì vậy, ngôi làng này giống như một thị trấn nhỏ, theo cách bà nhìn thấy quảng trường nhỏ ở trung tâm và các tòa nhà nhỏ. (Tạm dừng) Tôi đã được bảo rằng tôi có thể dành thời gian ở đây, vì vậy tôi có thể được phụng sự và học hỏi. Có vẻ như tôi sẽ làm việc với một người nào đó đã từng đi cùng chú ấy trước đây, nhưng bây giờ, tôi đoán bà có thể nói rằng, người đó đang trụ lại ở ngôi làng này. Tôi đoán đó là những gì bà có thể gọi nó. Và vì vậy tôi phải ở trong một vị trí của người học hỏi ở đây, để giúp truyền lại những giáo lý và chăm sóc cho những người cần điều đó. Tôi chỉ là người hỗ trợ mà thôi. 

D: Và anh ấy sẽ đi nơi khác khi cô ở đó?

A: Vâng. Chú ấy sẽ quay lại vì tôi. Và sau đó có vẻ như chú ấy phải quay trở lại Jerusalem.

D: Có ai khác trong nhóm của cô sẽ ở lại đó với cô không?

A: Không phải nơi mà tôi sẽ ở. Tôi nghĩ thỉnh thoảng, tùy thuộc vào nhu cầu của thị trấn hoặc làng mạc, chú ấy có thể để một số tín đồ của mình đảm nhận một số vai trò nhất định. Đôi khi họ ở đó trong một khoảng thời gian ngắn, và đôi khi cuối cùng họ lại ở lại. Vì vậy, tôi nghĩ, từ những gì tôi đang cảm thấy, rằng có một số người là tín đồ trước đây trong ngôi làng này. Có thể họ đang làm việc với những năng lực khác nhau, dù là giảng dạy hay chữa bệnh, hoặc chỉ ở đó cho bất cứ ai đang cần.

D: Cô cảm thấy thế nào về việc anh ấy để cô ở đó?

A: Tôi cảm thấy như thể tôi đã sẵn sàng ở lại một nơi trong một thời gian. Nếu chú ấy nói đây là nơi tôi phải ở, để tôi có thể học hỏi và phụng sự, thì có vẻ như việc tôi ở đây là rất đúng đắn. Tôi đầy sức sống và tràn ngập những gì chú ấy đã cho phép tôi làm và học hỏi từ chú ấy, nhưng dường như việc điều này xảy ra là hiển nhiên thôi. 

D: Có gì khác xảy ra trước khi anh ấy đi không?

A: Chú ấy đang nói chuyện với một vài người đàn ông trong làng. Và họ đang lên lịch cho chú ấy ở lại những nơi khác nhau, và giúp chú ấy đến thăm những người cần chú ấy nhất. Sau đó, họ sẽ có một cuộc họp mặt vào buổi tối. Bà thấy đấy, nhiều người trong số những người theo giáo lý của chú ấy và những tín đồ của chú ấy, đã cố gắng xây dựng các phòng họp lớn bên dưới nhà của họ, để họ không thể bị phát hiện ra được. 

D: Rồi anh ấy sẽ nói chuyện với những tín đồ có ít kinh nghiệm hơn.

A: Vâng. Thông thường, những lời giảng dạy của chú ấy nằm trong việc trả lời các câu hỏi. Hoặc nếu chú ấy cảm thấy thôi thúc, thì chú ấy sẽ nói về một chủ đề quan trọng.

D: Vậy thì cô có muốn tiến tới đêm họp mặt, và cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra không?

A: Tôi đã được giới thiệu với người mà tôi sẽ làm việc cùng. Tên của anh ấy là Abram (phát âm với âm Ah mạnh ở âm tiết đầu tiên). Tôi sẽ ở trong nhà của anh ấy, và học thêm những giáo lý, nhưng cũng hỗ trợ bất cứ điều gì anh ấy cảm thấy tôi nên làm. Nhiều thứ khác nhau, cho dù đó là làm việc với người bệnh, người già hay trẻ mồ côi, hay chỉ là dạy học.

D: Anh ấy giới thiệu cô là Naomi hay Nathaniel?

A: (Một nụ cười ngượng ngùng) Abram… ồ, tôi biết việc này khó mà. Bà thấy đấy, tôi đang ở thời điểm bây giờ mà tôi gần như cảm thấy ngu ngốc khi làm điều này. Tôi nghĩ, để bảo vệ tôi, chú ấy đang gọi tôi là Nathaniel. Nhưng tôi biết chú ấy đã nói với Abram rằng tôi thực sự là Naomi. vậy, tôi nghĩ rằng sớm thôi, sẽ có một sự thay đổi mà tôi sẽ không còn cần đến kiểu ngụy trang này nữa. Tôi cảm thấy rất vui khi thấy nhiều phụ nữ hơn ở thuộc địa nhỏ bé kia. Và vì vậy trong ngôi làng này, tôi có thể an toàn được làm chính mình. Và bà biết đấy, tôi ngày càng lớn và trông không còn giống con trai như vậy nữa. Vì vậy, tôi nghĩ mình sẽ thay đổi.

Rõ ràng là thời gian đã trôi qua nhiều hơn tôi nghĩ. Cô ấy có thể đã cô đọng nhiều tuần và nhiều tháng trong lời kể chuyện, đặc biệt nếu tất cả những khoảng thời gian đều giống nhau. Naomi đã trưởng thành và mang những đặc điểm cơ thể của một thiếu nữ.

D: Vậy là chuyến hành trình này đã kéo dài hơn một vài ngày rồi. Có phải không?

A: Tôi nghĩ nó sẽ là một vài tuần. Nó đã thay đổi. Hành trình của chúng tôi sẽ thay đổi tùy thuộc vào nhu cầu và những gì John tìm ra. Vì vậy, đã được một thời gian, và tôi đoán đó là lý do tại sao tôi cảm thấy mình đã sẵn sàng ở một nơi và được giao trách nhiệm cho, trong một thời gian. Nhưng tôi đang ở độ tuổi từ mười ba đến mười bốn tuổi, và tôi cảm thấy cơ thể mình đang thay đổi. Tôi sẽ không thể trông giống như một cậu bé được lâu hơn nữa.

D: Cô sẽ không thể giấu giếm điều đó nữa.

A: Không. Chú ấy có lẽ biết tôi sẽ phải xuất hiện lại như tôi vốn là, vì vậy đây có lẽ không chỉ là nơi học tập mà còn là nơi an toàn để tôi thực hiện sự chuyển đổi.

D: Phải. Sau đó, bất cứ khi nào anh ấy trở lại và cô được đi cùng một lần nữa, cô sẽ đi cùng như một cô gái.

A: Và nó sẽ an toàn và tôi sẽ cảm thấy ổn. Chắc sẽ có nhiều phụ nữ hơn nên sẽ dễ chấp nhận hơn.

D: Đó có phải là một bất ngờ, khi thấy nhiều phụ nữ hơn ở nơi khác không?

A: Vâng. Tôi nghĩ rằng bất cứ ai chân thành và thành thật đều được chấp nhận, nhưng theo truyền thống, hầu hết phụ nữ được nuôi dưỡng như mẹ tôi. Có vẻ như có một số người cảm nhận được một cách mạnh mẽ về con đường của họ như tôi cảm nhận về con đường của tôi vậy.

D: Đúng vậy. Phần lớn phụ nữ thậm chí không được dạy bất cứ điều gì, phải không?

A: Không, nó rất hiếm, rất hiếm.

D: Đó là lý do tại sao sẽ là một điều ngạc nhiên khi có rất nhiều phụ nữ. Tôi cho rằng nó không quan trọng với Nazarene, phải không?

A: Ồ, chú ấy đón nhận tất cả mọi người, vì chú ấy nhìn nhận theo cách khác. Chú ấy coi mọi người như mọi người. Khi người ta sống bằng trái tim mình, người ta nhận thức rõ hơn về những điều khác, rằng người ta không quan trọng hơn ai cả chỉ vì người ta là đàn ông. Người ta cũng quan trọng như bất kỳ ai khác mà thôi. Nó không phải là việc người ta đang ở trong loại cơ thể nào. Mà chính bản chất của người ta là những gì tỏa sáng thông qua cơ thể đó.

D: Điều đó có lý đối với tôi. Chà, họ đang tụ họp ở một trong những căn phòng dưới lòng đất đó phải không?

A: Vâng. Chú ấy đang chào đón tất cả mọi người. Tôi nghĩ buổi tối hôm nay chú ấy đang cố chứng minh rằng chú ấy đang bước đi trên trái đất này, cũng giống như chúng ta mà thôi, trong một cơ thể bằng xương bằng thịt. Và những gì chú ấy là hoặc những gì chú ấy có thể làm, tất cả chúng ta đều đang là và có thể làm. Chỉ có điều là chúng ta phải mở nội tâm của mình ra để nhận thức được về việc thừa nhận điều đó. Và chú ấy tin rằng một khi người ta lại vươn lên, thông qua việc sống bằng trái tim và biết rằng có Chúa ở trong bạn, phần mà được kết nối với Chúa toàn năng này, thì người ta sẽ hiểu biết nhiều hơn. Và bạn sẽ biết rằng bạn có thể chữa lành cho bản thân và những người khác, cho dù điều đó là thuộc về cảm xúc hay là không. Chú ấy nói người ta sẽ biết rằng tất cả chúng ta đều có khả năng.

D: Tôi cho rằng nhiều người nghĩ anh ấy là người duy nhất có thể làm những điều này?

A: Bất cứ khi nào chú ấy được hỏi về điều đó, chú ấy sẽ cố gắng hết sức để mọi người hiểu rằng, không, chú ấy được sinh ra giống như họ mà thôi. Sự khác biệt duy nhất là chú ấy đã nhận thức được khả năng của con người, và không có sự khác biệt nào khác. Chú ấy ăn mặc như một người đàn ông bình thường. Chú ấy không muốn gì đặc biệt. Chú ấy muốn mọi người biết rằng thực sự không có sự khác biệt, và quy luật của Đức Chúa Trời làm mọi người trở thành một thể. Điều quan trọng duy nhất là sống bằng trái tim, phụng sự và chăm sóc lẫn nhau. 

D: Nhưng tất nhiên, anh ấy cũng đã được đào tạo, để dạy anh ấy cách nhận thức tốt hơn, phải không?

A: Đúng vậy, nhưng thông qua sự đào tạo này, chú ấy nhận ra rằng mọi thứ không nên quá được giữ bí mật, giữ cho người bình thường không tiếp cận được như vậy. Chú ấy tin rằng điều này là không đúng. Chú ấy tin rằng tình yêu và quy luật của Đức Chúa Trời là dành cho tất cả mọi người, vì vậy đây là điều chú ấy đang cố gắng truyền bá. Tôi đoán chú ấy chỉ đang giải nghĩa những gì chú ấy đã học được, để chú ấy có thể dạy nó cho người bình thường.

D: Phải, bởi vì nhiều người trong số họ nghĩ rằng những lời dạy này chỉ dành cho một vài người, và không phải cho tất cả mọi người. 

A: Và điều này đã gây ra nhiều xung đột trong các tầng lớp khác của xã hội. Họ cảm thấy sức mạnh của họ, quyền lực của họ, đang bị tước đi. Bởi vì nếu một người bình thường phát hiện ra rằng người ta có thể suy nghĩ cho chính mình, và rằng người ta có thể tự đi trên con đường của mình, tốt và chính đáng, thì điều đó sẽ tước đi quyền lực của họ.

D: Vậy thì cô có nghĩ rằng một số tu sĩ biết những điều này, nhưng họ lại coi nó như tri ​​thức thiêng liêng không?

A: Tôi nghĩ đây có lẽ là trường hợp như vậy. Tôi không biết họ diễn giải nó như thế nào. Mọi người đều có thể tiếp cận với kiến ​​thức này, nhưng việc diễn giải thích hợp là rất quan trọng.

D: Đó là lý do tại sao họ không chấp thuận những gì anh ấy đang làm. Nó giống như việc kể những bí mật của họ cho mọi người. Rất có thể họ nghĩ rằng một người bình thường không xứng đáng để biết được những điều này.

A: Đó là lý do tại sao chú ấy lấp đầy người ta bằng tình yêu và sự mãn nguyện như vậy, bởi vì chú ấy đã cố gắng rất nhiều để truyền tải thông điệp rằng tất cả chúng ta đều giống nhau. Tất cả chúng ta ở đây để phục vụ lẫn nhau. Chúng ta nên đối xử với nhau như chúng ta muốn được đối xử, và ở đó khi ai đó thực sự cần.

D: Có ai trong số những người đó đặt câu hỏi không?

A: Có người hỏi, nếu họ truyền bá những lời dạy của chú ấy và cảm thấy rằng điều này là dành cho tất cả mọi người và những người bình thường, thì làm sao họ có thể tự bảo vệ mình được? Làm thế nào họ có thể thực sự làm điều này? Thật khó để đạt đến mức độ mà xua tan được nỗi sợ hãi.

D: Vâng, một cảm xúc rất con người. Anh ấy đã nói gì?

A: Chú ấy nói về sự kiên nhẫn và biết rằng nếu người ta không bước đi trong sợ hãi, thì ánh sáng vĩnh cửu bên trong sẽ ngày càng sáng hơn, và tất cả những trói buộc của sợ hãi sẽ được giải phóng. Nhưng tất cả chúng ta phải tự mình khám phá ra điều này. Và người khôn ngoan sẽ tiến hành một cách thận trọng, không sợ sự thật và vươn ra ngoài.

D: Nhưng đó là một nỗi sợ rất thực, bởi vì những gì họ đang cố gắng làm đều nguy hiểm.

A: Vâng. Nhưng nếu người ta tiến hành một cách thận trọng và biết rằng người ta đang được yêu cầu truyền đạt thông tin này, thì lời nói sẽ dần thâm nhập. Một khi người ta nhìn thấy ánh sáng nhỏ đó, người ta thậm chí không cần đến lời nói để biết rằng những thay đổi đang được thực hiện. Có vẻ như mọi người sẽ đến gặp người ta và hỏi. Và thông qua việc hỏi, người ta sẽ biết liệu người ta có đang phụng sự người khác hay không. Bản thân điều đó là một phần của giao tiếp không lời, thể hiện với người khác người ta có thể quan tâm. Quan tâm và giúp đỡ và không yêu cầu đền đáp bất cứ điều gì.

D: Nhưng tôi có thể hiểu tại sao họ lại cảm thấy sợ hãi. Có ai khác hỏi câu nào nữa không?

A: Một người đàn ông cũng nói rằng thật khó cho anh ta để hiểu được việc làm thế nào để anh ta có thể bình đẳng với chú ấy. Và Giê-su đi đến với người này và cho người đó sờ tay và thân thể mình, để biết được rằng chú ấy là người bằng xương bằng thịt. Và để biết rằng liệu mong muốn và ý định có ở đó hay không (cười tươi)… Ồ, thật đẹp khi quan sát, bởi vì bà có thể nhìn thấy tình yêu thương qua khuôn mặt của chú ấy đối với người kia. Cứ như thể người kia bị hớp hồn, không cần lời nói cũng biết được. Nazarene cho người ta hiểu rằng bất kể quá khứ của người ta là gì, nếu người ta có những cảm xúc và khám phá này vào bất kỳ thời điểm nào trong cuộc đời, thì điều đó cũng đều ổn cả. Không sao cả vì thời khắc này là quan trọng nhất.

D: Người đàn ông có lẽ muốn nói, làm sao anh ta có thể bình đẳng khi Giê-su có thể làm tất cả những điều kỳ diệu này?

A: Và những điều mà Nazarene làm, chú ấy cho người đàn ông biết rằng anh ta cũng có thể làm được.

D: Đó là điều khó tin. Anh ấy đã dạy những người này hoặc những người trong nhóm khác của cô cách chữa bệnh chưa?

A: Đã có một vài. Nhưng nó cũng là một quá trình rất chậm và cẩn thận, bởi vì người ta phải tự chữa lành cho chính mình trước. Và nếu một người được truyền dạy cho quá nhiều, thì nó sẽ không có tác dụng như người ta đã hy vọng. Rồi việc học nhiều sẽ trở nên rối rắm. Nó sẽ tác dụng ngược hoặc bị dừng lại. Vì vậy, chú ấy phải rất cẩn thận, và chỉ để họ xử lý những gì họ đã sẵn sàng.

D: Phải, dù sao thì nếu cô truyền dạy cho họ quá nhiều, họ sẽ không hiểu điều đó. 

A: Và họ có thể rất bực bội. Người ta cũng phải học rằng người ta không thể có kỳ vọng. Người ta phải học cách có niềm tin. Mọi thứ không phải lúc nào cũng có thể được diễn giải thành lời.

D: Phải, điều đó đúng đấy. Khi anh ấy nói rằng người ta phải tự chữa lành bản thân trước, tôi tự hỏi anh ấy nói vậy là có ý gì?

A: Chú ấy có ý nói là người ta phải đi đến nhận thức rằng họ là bản thể hoàn hảo này. Người ta là bản thể Chúa đầy yêu thương này. Điều này thật khó giải thích, nhưng đó là một cảm giác ấm áp và yêu thương bao trùm và biết rằng việc làm chính mình là ổn cả thôi. Người ta hoàn hảo theo cách của họ. Và thông qua việc chấp nhận loại hiểu biết và tình yêu thương này, rồi nó có thể được truyền lại cho người khác.

D: Vậy thì nếu không biết tự yêu thương lấy chính mình, có thể nói, người ta sẽ không thể truyền lại những lời dạy khác, hay những sự chữa lành được.

A: Vâng, bởi vì cánh cửa sẽ mở ra khi người ta đạt được sự chữa lành từ bên trong của chính mình. Vì vậy, thông thường, nó không phải là một quá trình nhanh chóng…

D: Cô đã bao giờ nghe nói về cái được gọi là ‘dụ ngôn’ chưa? Cô đã nghe anh ấy sử dụng từ đó chưa?

A: (Mỉm cười) Những điều này được tìm thấy trong văn bản khá thường xuyên, tôi đã được bảo vậy. Chúng là những câu chuyện có hai ý nghĩa, nếu đây là những gì bà nói đến?

D: Tôi nghĩ vậy.

 A: Chúng được viết theo cách mà chúng sẽ có nghĩa đen, và sau đó có nghĩa sâu hơn, nếu người ta có đủ tri ​​thức để nhìn thấy nó. Và những ý nghĩa kia chứa đựng một sự thật, một sự thật mà chính là sự thật của Đức Chúa Trời.

D: Cô đã nói rằng chúng là văn bản. Ý cô là trong sách tôn giáo hay thế nào?

A: Đây là những gì tôi nhớ từ lời dạy của cha tôi, và chữ viết trong các Sách Thánh được đọc trong Đền thờ. Và khi bà đề cập đến ‘dụ ngôn’, đây là điều mà tôi nghĩ đến đầu tiên. 

D: Cô đã bao giờ nghe nó được đề cập mà có liên quan đến Nazarene chưa?

A: Tôi nghĩ… Tôi nghĩ chú ấy đã sử dụng chúng, đặc biệt là khi chú ấy nói chuyện với các linh mục và giáo sĩ Do Thái và các quan chức chính phủ, hoặc khi chú ấy nói chuyện với các nhóm lớn. Vào những lúc đó, chú ấy có thể nói về những ‘dụ ngôn’ này, chỉ để thận trọng hoặc giữ cho hòa khí. Nhưng chú ấy không sử dụng kiểu nói chuyện này trong các nhóm nhỏ hơn, bởi vì chú ấy cảm thấy khi chú ấy thực sự được mong muốn và mọi người thực sự muốn tìm hiểu, thì chú ấy làm cho nó gần gũi với ý nghĩa thực sự của nó và đơn giản nhất có thể.

D: Anh ấy không cố tỏ ra bí ẩn về nó à?

A: Không. Chỉ… ồ, điều này thật khó nói. Nếu chú ấy phải dạy một bài học và ai đó phải tìm ra cách riêng của họ… tôi đoán là còn tùy. Bà thấy đấy, bây giờ tôi đang nghĩ đến những lần khác, tôi nhớ chú ấy đã nói. Nếu chú ấy ở trong một nhóm lớn hoặc nếu nhóm khá mới, thì đôi khi chú ấy sẽ nói theo cách này, nhưng chú ấy chỉ làm theo cách đó để những người khác có thể học hỏi. Và trong chuyến thăm tiếp theo hoặc lần sau khi chú ấy gặp họ, họ thường sẽ thảo luận về nó. Và đến lúc đó, họ sẽ có thể đưa ra câu trả lời cho riêng mình. Vì vậy, đôi khi tôi đoán nó là một phương tiện để giảng dạy.

D: Vậy thì anh ấy không nói cho họ biết nó có nghĩa là gì. Anh ấy để họ tự tìm ra câu trả lời.

A: Vâng. Tôi đoán đôi khi nó là trường hợp này. 

D: Tôi nghĩ trong một số trường hợp, anh ấy có thể lấy nó làm ví dụ cho một người không thể hiểu theo cách nào khác.

A: Vâng. Tôi nghĩ đây cũng là những gì tôi đang cố gắng nói. Bởi vì nhiều lần họ sẽ nghe thấy nó, và trong sự suy ngẫm và thời gian trôi qua, đôi khi nó sẽ bắt đầu xuất hiện lại toàn bộ thông qua việc mở các cánh cửa (tâm trí). Bởi vì họ sẽ nhìn thấy nó theo một chiều và đột nhiên ánh sáng này sẽ lớn lên, và họ sẽ tìm ra được sự hiểu biết rõ ràng. Vì vậy nó cũng là một công cụ học tập.

D: Tôi tự hỏi liệu đôi khi anh ấy kể những câu chuyện để minh họa cho một trọng điểm hay để người bình thường dễ hiểu hơn?

A: Vâng, thỉnh thoảng như vậy.

D: Anh ấy nói chuyện với những người bình thường trên đường phố, hay chủ yếu là trong những nhóm này?

A: Chú ấy sẽ không quay lưng lại với bất cứ ai. Chú ấy sẽ chào hỏi những người bình thường trên đường phố. Nếu gặp gỡ, chú ấy sẽ đáp lời. Nhưng chú ấy thực sự có một cảm tính, chú ấy biết khi nào là thích hợp để truyền dạy và khi nào chú ấy cảm thấy an toàn để làm như vậy. 

D: Đó là điều tôi tự hỏi – liệu có bao giờ có những người lạ đến gặp anh ấy và muốn biết tất cả mọi chuyện không.

A: Chú ấy sẽ trả lời câu hỏi của họ. Chú ấy sẽ không quay lưng lại với bất cứ ai. 

D: Nhưng phần lớn những người anh ấy nói chuyện là những người biết anh ấy đang làm gì.

A: Vâng. Bởi vì chú ấy cảm thấy rằng khi làm việc với những người này, họ sẽ học được những giáo lý một cách chân thực nhất và truyền lại chúng. Tuy nhiên, bà không thể ép buộc bất cứ ai tiếp thu kiến ​​thức này. Đó là lý do tại sao chú ấy thực hiện những cuộc hành trình này. Nhưng như tôi đã nói, chú ấy không ngừng truyền dạy, bởi vì chú ấy sẽ không quay lưng lại với bất cứ ai. Chú ấy sẽ nói chuyện với những người trên đường phố. Nhưng nó khác với việc ở bên những người mà chú ấy biết là họ thực sự khao khát và sẵn sàng cho những lời dạy của chú ấy, và cảm thấy đây cũng là con đường của họ. Mọi người có những thực tế của riêng họ về điều này.

D: Chà, những người này mà anh ta cử đi để truyền tin – giống như ở thị trấn đầu tiên trên hồ. Họ chỉ đến với những người bình thường, hay là…?

A: Những người này… chú ấy gửi họ đi theo hướng mà họ được cần đến. Nó không phải như thể chú ấy là một chỉ huy hay một vị tướng. Những người này cũng đưa ra lựa chọn của riêng họ nữa. Họ biết họ cảm thấy cần được phụng sự. Vì vậy, họ tản ra, theo hành trình của riêng họ và tiếp tục công việc của chú ấy, bởi vì chú ấy không thể ở khắp mọi nơi được. Vì vậy, họ đang tìm hiểu thông qua những cách riêng của họ ở những nơi mà họ được cần đến. Mọi người đang liên kết với nhau. Và thông qua những người truyền tin, những người này sẽ thực hiện các cuộc hành trình của riêng họ đến nơi họ có thể trở thành hữu dụng nhất hoặc được cần đến nhất.

D: Đó là những gì tôi đang cố gắng hiểu đấy. Họ không ra ngoài và chiêu mộ hay tìm kiếm thêm người mới sao?

A: Không, bởi vì đây không phải là cách nó diễn ra. Ép buộc, chú ấy không làm việc theo cách đó. (Mỉm cười) Chú ấy không chiêu mộ, vì vậy từ ngữ thoát ra mà không có vấn đề gì. Có vẻ như mọi người đang liên lạc với nhau, và tin tức chỉ đang lan rộng.

D: Đó là cách nó được thực hiện. Họ chỉ nói với bạn bè của họ hoặc bất cứ ai họ nghĩ là sẽ quan tâm.

A: Hoặc trừ phi họ nghe nói về ai đó đang cần. Họ sẽ đi ra ngoài đến nơi không ai khác có thể đến. Vì vậy, đây là một phần của việc truyền giáo.

D: Được rồi. Tôi chỉ đang cố gắng hiểu tất cả điều này hoạt động như thế nào mà thôi. Có điều gì khác xảy ra tại buổi họp đêm đó không?

A: Không. Chú ấy chủ yếu trả lời các câu hỏi và diễn thuyết, và chú ấy đang tìm ra nơi mình được cần đến trong làng. Chú ấy sẽ liên lạc với nhiều người vào ngày mai. Đó dường như là những gì đang xảy ra. Tôi nghĩ khi công việc của chú ấy hoàn thành ở làng, chú ấy sẽ tiếp tục ra đi. Bất kể là mất bao lâu để gặp bất cứ ai mà chú ấy cần gặp trong làng. Nó có thể sẽ chỉ mất khoảng thời gian còn lại trong ngày mà thôi.

D: Vậy thì cô sẽ ở tại nhà của Abram. Cô có biết còn bao lâu nữa anh ấy mới quay lại không?

A: Tôi không chắc khoảng thời gian thực sự là bao nhiêu, nhưng có thể là vài tháng. Tôi cảm thấy mình cần phải ở một nơi, phụng sự và đóng góp.

D: Hãy tiến về phía trước cho đến khi anh ấy để cô lại ở đó. Có điều gì bất thường xảy ra khi anh ấy ở đó, trong ngôi làng không?

A: Chú ấy đã chữa bệnh, nhưng không có gì khác thường cả (cười). Chúng chỉ là những phép mầu hàng ngày của người ta mà thôi.

D: Họ là những người trong nhóm bị ốm, hay họ đã đưa mọi người đến với anh ấy, hay là gì?

A: Ồ, họ đã sắp xếp để chú ấy đến thăm nhiều ngôi nhà khác nhau, nơi chú ấy sẽ được chấp nhận, nơi chú ấy được mong đợi. Tuy nhiên, không phải tất cả họ đều có mặt tại cuộc họp.

D: Có loại bệnh cụ thể nào mà anh ấy đã từng chữa khỏi không?

A: Có một căn bệnh của… Tôi không biết phải nói thế nào… vùng đầu. Người phụ nữ này đang rất đau đớn, như thể một cái kẹp ê-tô đang bị vặn vẹo. Và có sự sưng tấy. Bà có thể thấy một vết sưng trên đầu cô ấy, và chú ấy đã giải phóng nó cho cô ấy. Và cô ấy… nó y như trước. Ánh sáng vàng y hệt như trước xung quanh đầu và trái tim và bàn tay của chú ấy. Và có một sự dịu dàng trên khuôn mặt của chú ấy. Nhưng cô đã có thể cảm nhận được điều đó ngay lập tức. Và có những người ở đó đã thấy điều này xảy ra. Thật khó tin nhưng đó là món quà của Thượng Đế.

D: Và vết sưng giảm đi còn cơn đau thì biến mất ư?

A: Vâng. Cô ấy chỉ muốn chết. Cô ấy đã yêu cầu được chết. Nhưng đó không phải là thời điểm của cô ấy. Và chú ấy đã có thể giúp cô ấy.

D: Đúng vậy, đó là một điều kỳ diệu. Nhưng như cô đã nói, cô đang nhìn thấy rất nhiều những phép màu như vậy.

A: (Mỉm cười) Nhưng những thứ khác… chú ấy đã đi và gặp tất cả những người cần chú ấy, và có một cuộc họp mặt khác trước khi chú ấy rời đi. Và (mỉm cười) chú ấy đến thăm nhà của Abram. Và tôi chỉ là… (thở dài) có rất nhiều tình yêu thương dành cho chú ấy. Chú ấy đặt tay lên đầu và mặt tôi, và nói với tôi rằng tôi sẽ là Naomi, và tôi không có gì phải sợ hãi cả. Rằng tôi sẽ luôn đi cùng chú ấy. Và tôi sẽ học được nhiều bài học quý giá, và được phụng sự với đầy tình yêu thương ở đây. Chú ấy đã trao cho tôi một cái ôm tuyệt vời, và hôn lên trán tôi. (Buồn bã, suýt khóc:) Thật khó khi nhìn thấy chú ấy rời đi, nhưng tôi biết đây là nơi tôi vốn phải ở lại.

D: Nhưng anh ấy sẽ quay lại mà. Đó là điều quan trọng. Anh ấy sẽ quay lại và đón cô mà. Anh ấy cũng có thể đi vào một khu vực gập ghềnh và khó đi qua. Anh ấy đang nghĩ cho lợi ích của chính cô mà thôi. 

A: (Khịt mũi) Vâng, có thể.

D: Ít nhất thì cô biết rằng cô sẽ ổn ở đó, và cô sẽ làm những gì anh ấy muốn cô làm. Và anh ấy sẽ trở lại thôi. Cô nói rằng cô nghĩ rằng anh ấy sẽ quay trở lại Jerusalem vào lúc đó?

A: Chú ấy dường như luôn phải quay trở lại hướng đó vào cuối mỗi cuộc hành trình. Và vì vậy, cuối cùng chú ấy đã trở lại Jerusalem, và trở lại với những người chú ấy phải gặp ở đó. Chú ấy cũng sẽ đi thăm gia đình mình.

D: Ở Nazareth sao? Cô sẽ có thể đến đó cùng với anh ấy chứ?

A: Tôi không biết liệu có đến lúc đó không, nhưng có thể.

D: Cô đã bao giờ nghe ai nói về một người tên là John the Baptist chưa?

A: John …? (Tạm dừng) 

D: Đây là một John khác. Anh ta có thể được biết đến qua một cái tên khác. 

A: Tôi nghĩ… người đàn ông này đã ở vùng hồ. Tôi không biết việc anh ta luôn ở bên cạnh chú ấy, nhưng tên thì nghe quen đấy. Có một người tên John khi chúng tôi ở bên hồ tại ngôi làng nhỏ của Biển Hồ Kinnereth. Và khi chúng tôi thanh tẩy mình trong nước… anh ấy nói rằng đó là tốt cho cơ thể và tinh thần. Vì vậy, đây có thể là người đàn ông mà bà đang nói đến đấy.

D: Đây là người đàn ông đã làm điều đó sao?

A: Vâng. Anh ta đã có một nghi lễ … một nghi lễ mang tính biểu tượng của sự thanh tẩy. Nhưng nó không dành cho tất cả chúng tôi. Chỉ có một vài người thôi. Nhưng tôi nghĩ anh ấy được gọi là… Tôi không biết… John của Nước (John of the Water)? Và đó là sự thanh tẩy của nghi lễ tâm linh.

D: Đó là loại nghi lễ nào vậy?

A: Tôi nghĩ đây là một nghi lễ của những người đã tuân theo những lời dạy của Giê-su trong một thời gian. Điều này là để bao phủ người ta trong nước, và một khi người ta đứng lên, anh ấy đã chúc phước lành. Và thông qua việc tẩy rửa mang tính biểu tượng bằng nước của linh hồn, đó là một nghi lễ dâng mình cho Đức Chúa Trời và cũng là cách thức giảng dạy.

D: Và đây là một nghi lễ mà không thường được thực hiện sao?

A: Tôi đã nghe nói về nó. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó.

D: Có nghi thức nào khác mà Nazarene thực hiện với nhóm không?

A: (Tạm dừng) Không phải với nhóm lớn, không phải với nhóm mới. Nhưng anh ấy có một phong cách chỉ nói chuyện và sử dụng đôi tay của mình. Khi chúng tôi ngồi trong im lặng cầu nguyện để tập trung vào điều gì đó, bà có thể nhìn thấy và cảm nhận được sự khác biệt. Tôi không biết liệu đây có phải là ý bà hay không. Tôi không thể nghĩ đến bất cứ điều gì.

D: Tôi đã nghĩ rằng đôi khi trong Đền thờ họ có những nghi thức và lễ tế.

A: Ồ, giống như là có những ngọn nến và Sách Thánh và các ngày lễ phải không ạ? Không, tôi đoán nghi lễ lấy nước tượng trưng là một trong những nghi lễ đầu tiên. Nhưng khi tôi thấy Nazarene nói, chú ấy thường cố gắng giữ nó ở mức độ không có sự ngăn cách. Vì vậy, nếu chú ấy đang làm điều gì đó, chú ấy cố gắng để những người ở đó làm chung nữa. Vì vậy, chú ấy không có nghi lễ, chỉ cầu nguyện thầm lặng và… cách chú ấy cầu xin sự hướng dẫn từ Chúa là bản thể của chú ấy.

D: Tôi cho rằng đúng hơn là các nghi thức và lễ tế có thể khiến anh ấy trở nên cách biệt với người bình thường. Tôi tò mò không biết anh ta có đang làm những việc theo cách mà các thầy tế lễ trong Đền thờ sẽ làm không. Nhưng nó không giống như vậy.

A: Không. Chú ấy cố gắng làm cho các cuộc họp mặt của mình giống như tình anh em, tình đồng nghiệp, nơi không ai cao hơn người khác. Chú ấy ngồi ngang hàng và cố gắng giữ mình bình đẳng với mọi người.

D: Được rồi. Sẽ ổn nếu tôi quay lại nói chuyện với cô và theo dõi câu chuyện này chứ? Tôi rất quan tâm đến những gì sẽ xảy ra.

Naomi cho phép tôi quay trở lại và tiếp tục theo đuổi câu chuyện về mối quan hệ của cô ấy với Chúa Giê-su, vì vậy tôi đưa Anna trở lại trạng thái tỉnh táo bình thường của cô ấy. Cuộc sống của cô tiếp nối trở lại và thích nghi với những việc đời thường, trong khi tâm trí tỉnh táo của cô không nghi ngờ gì về câu chuyện khác đã diễn ra cách đây nhiều năm. Trong buổi thôi miên này, tôi cảm thấy rằng, thông qua phương pháp nghiên cứu lịch sử độc đáo này, tôi đã được cho phép có được một đặc ân hiếm hoi là thực sự tham dự một trong những cuộc họp mặt của Chúa Giê-su. Tôi cảm thấy mình nằm trong số những người có mặt đang học hỏi từ bậc thầy, và tôi có thể thấy những lời dạy này hoàn toàn khác với những lời dạy chính thống vào thời của ông ấy như thế nào. Rõ ràng là những tín đồ ban đầu này cần rất nhiều can đảm để đi theo ông ấy, bởi vì có rất nhiều nguy hiểm thực sự có liên quan đến việc này. Nhưng tôi cũng có thể thấy khả năng thuyết phục mà ông ấy thể hiện, để xoa dịu nỗi sợ hãi của họ. Tôi có thể cảm nhận được những phẩm chất mà ông ấy sở hữu đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người theo ông ấy, vì vậy họ có thể học hỏi thêm về những lời dạy khác thường của ông ấy. Khác thường, vâng, nhưng chúng dường như lấp đầy được một khoảng trống trong cuộc sống của họ, mà đã không hề được lấp đầy bởi những lời dạy truyền thống của các giáo sĩ Do Thái vào thời của họ.

Tôi bắt đầu biết về Chúa Giê-su thật sự.

ĐỂ LẠI NHẬN XÉT

Please enter your comment!
Please enter your name here