Họ đã dạo bước cùng Chúa Jesus – Chương 6 Sự khởi hành.

0
32

 Tôi đã muốn khám phá cuộc sống ở Jerusalem xa hơn, để xem bản ngã khác của Anna là Naomi có mối quan hệ như thế nào với Chúa Giê-su, cũng như xem cô ấy có thể cung cấp được bao nhiêu thông tin cho tôi. Tôi đã dùng từ khóa của cô ấy và đếm để mang Anna ngược trở về lại thời mà Naomi đã sống ở Jerusalem. 

D: Tôi muốn cô đi đến một ngày quan trọng trong cuộc đời cô khi mà Naomi hãy còn sống ở Jerusalem, và cho tôi biết điều gì đang xảy ra. Tôi sẽ đếm đến ba và chúng ta sẽ ở đó. 1… 2… 3… đó là một ngày quan trọng trong cuộc đời cô. Điều gì đang xảy ra? Cô nhìn thấy gì?

A: Tôi thấy cảnh tương tự mà tôi đã trải qua trước đây. Và tôi biết bây giờ tôi phải làm gì với cuộc sống của mình. Tôi muốn cha mẹ tôi không cảm thấy tôi đã không nghe lời, nhưng tôi biết số phận của tôi là đi cùng chú ấy và giảng dạy. Và tôi sẵn sàng mặc áo choàng của đàn ông và cải trang, vì tôi không có ý định làm những điều như mẹ tôi, hoặc vâng lời như mẹ. Tôi nhận thấy điều duy nhất dành cho mình trong cuộc đời này, chính là truyền dạy lời của chú ấy và cách sống của chú ấy.

D: Cô bao nhiêu tuổi vào thời điểm này?

A: Tôi nghĩ là tôi mười ba tuổi. Tôi đã già đi khoảng một năm, bởi vì trong năm đó tôi đã cố gắng, tôi thực sự cố gắng trở thành một đứa con gái ngoan và làm như họ mong muốn. Nhưng nó không ở trong trái tim tôi. Tôi yêu thương họ, nhưng cuộc đời của tôi sẽ là không đáng sống, nếu tôi phải ở lại đây và kết hôn và sống theo lối như vậy.

D: Như mọi cô gái khác sẽ phải làm sao? Cô đã thảo luận điều này với mẹ và cha của cô chưa?

A: Cha tôi không kiên nhẫn như vậy, và ông ấy gọi đó là sự ngu ngốc. Tôi đã ngừng nói chuyện. Và mẹ tôi hiểu, nhưng “đó không phải là cuộc sống của một người phụ nữ”, bà nói. Vì vậy, tôi đã trở nên yên lặng, và tôi chỉ cầu nguyện. Tôi đã nói chuyện với Nazarene khi chú ấy ở đây, nhưng không còn sự lựa chọn nào nữa.

D: Có phải cha của cô cũng nghĩ những gì em trai mình đang làm là ngu ngốc không?

A: Không hề. Ông ấy tin vào tất cả những lời nói và những gì chú ấy đang cố gắng làm. Ông ấy chỉ là không quen với việc một phụ nữ hay một cô gái đi theo những bước chân đó. Nếu tôi là một đứa con trai, tôi tin rằng sẽ không có vấn đề gì. Họ có thể lo sợ cho sự an toàn của tôi, nhưng họ sẽ để tôi ra đi với tình yêu và sự chúc phúc của họ. 

D: Họ chỉ đang cố gắng bảo vệ cô mà thôi. Họ để tâm đến quyền lợi của cô, ngay cả khi đó không phải là điều cô thực sự muốn làm. Họ chỉ đang nghĩ đến điều tốt nhất cho cô thôi mà.

A: Tôi biết. Và tôi đã cố gắng, tôi đã cố gắng gần một năm nay. Và tôi đã làm những điều mà họ mong muốn. Tôi đã giúp mẹ tôi chăm những đứa trẻ. Và tôi không thể làm điều này nổi nữa. Tôi cảm thấy mình già trước tuổi. Tôi cảm thấy, đối với tôi, hôn nhân thật ngu ngốc. Không có lý do gì để tôi kết hôn cả. Điều duy nhất tôi yêu thích là sự thật mà tôi muốn giúp lan tỏa đến mọi người. Và tôi yêu… Tôi đoán nếu tôi có bao giờ yêu bất kỳ người đàn ông nào, thì đó hẳn sẽ là Nazarene. Nhưng tôi biết điều này không bao giờ có thể xảy ra. Vì vậy, phần đó trong tôi phải học cách yêu theo cách khác với cách yêu của một người phụ nữ.

D: Điều này không đi ngược lại với truyền thống về những gì một người phụ nữ nên làm trong thời đại của cô sao? Có lẽ đó là lý do khiến bố mẹ cô buồn lòng.

A: Nhưng tôi biết tôi muốn trở thành một giáo chức và một cố vấn. Và đây là tất cả những gì trong trái tim tôi. Tôi biết đó là điều đúng đắn duy nhất để tôi làm. Tôi chỉ hy vọng họ sẵn sàng hiểu và nhận ra rằng không có sự lựa chọn. Chỉ có một con đường mà thôi.

D: Cô có nghĩ rằng khi cô ra khỏi đó, mọi thứ có thể khó khăn hơn cô nghĩ không?

A: Tôi không sợ điều đó. Tôi không sợ chết hay gian khổ.Tôi thấy mọi thứ rất đơn giản. Tôi thấy rằng chỉ có rất ít lý do để tôi sống. Và không có phần nào trong tôi có thể trở thành những gì mà cha mẹ tôi nghĩ rằng tôi nên trở thành cho nổi. Mặc dù đó là mong muốn từ trái tim của họ và vì hạnh phúc của chính tôi.

D: Cô nói rằng cô đã nói chuyện với Nazarene về điều này. Anh ấy cảm thấy thế nào về nó?

A: Một năm trước khi tôi nói chuyện với chú ấy, chú ấy nhẹ nhàng đặt tay lên mặt tôi và nói rằng tôi là phụ nữ và rằng tôi không thể đi cùng chú ấy bây giờ. Nhưng tôi sẽ đi với chú ấy vào lúc khác.

D: Vâng, tôi nhớ điều đó.

A: Và tôi cũng biết, chú ấy chỉ đang nói chuyện cho cha mẹ tôi nghe mà thôi. Nhưng tôi đã nhìn vào mắt chú ấy và chú ấy biết rõ hơn. Chú ấy đã làm điều đó vì tình yêu và sự bảo vệ. Và tôi đã nói với chú ấy rằng tôi có thể mặc áo choàng nam và cắt tóc và như thế là khôn ngoan nhất rồi. Tôi biết chú ấy sẽ không quay lưng lại với tôi. Chú ấy biết tôi đã ngừng nói về một số điều và trở nên im lặng. Và chú ấy biết tại sao, mặc dù tôi chưa nói với chú ấy. Chú ấy biết tôi sẽ đi với chú ấy và chú ấy sẽ chấp nhận tôi, bởi vì chú ấy biết điều đó đến từ trái tim tôi và từ đức Chúa Trời.

D: Anh ấy có thể nghĩ rằng cô sẽ đổi ý vì cô là một đứa trẻ.

A: Nhưng chú ấy đã thấy trong năm qua tôi đã cố gắng trở thành một đứa con gái ngoan ngoãn và làm theo mong muốn của cha mẹ. Chú ấy biết tôi đã làm tốt nhất có thể, và tôi đã cố gắng. Nhưng thật sai lầm khi tôi kết hôn và có con, vì sẽ không có tình yêu chân thật nhất trong trái tim tôi. Tôi không thể tạo nên một mái ấm hạnh phúc bằng những gì trong trái tim mình.

D: Cô sẽ chỉ làm việc đó vì nghĩa vụ hơn là vì bất cứ điều gì khác. Nhưng anh ấy có thể nghĩ rằng cô sẽ thay đổi quyết định của mình. Ở tuổi của cô, mọi người thường không biết họ muốn làm gì. Nào, cô định sẽ làm gì?

A: Tôi đang đợi để biết khi nào chú ấy sẽ rời đi một lần nữa. (Kiên định 🙂 Và tôi sẽ đi.

D: Anh ấy có ở Jerusalem vào lúc này không?

A: Mong là trong vòng vài ngày tới chú ấy sẽ đến.

D: Cô có biết anh ấy đã ở đâu không?

A: Tôi nghĩ chú ấy đã đi đến nhà riêng của gia đình. Và đã có những vấn đề ở đó. Nhưng chú ấy vẫn đang tiếp tục các buổi giảng dạy và các cuộc họp mặt của mình và đi đến các thị trấn.

D: Với nhóm người của anh ấy sao?

A: Một nhóm nhỏ ạ.

D: Nhà của gia đình anh ấy ở đâu? Cô có biết đó là thị trấn nào không?

A: Nó ở xa… Đó là khu vực Nazareth, nhưng từ chỗ của tôi, tôi tin rằng phải đi bộ vài ngày. Tôi chưa bao giờ đến đó.

D: Nhưng nhà của anh ấy không phải ở Nazareth. Cô có biết gia đình anh ấy có những thành viên nào không?

A: Em trai của họ… Tôi nghĩ em trai của họ đang ở nhà. Và đã có một số khó khăn. Tôi không thể chắc chắn một cách chính xác được. Họ không nói nhiều như vậy trước mặt tôi, hoặc nếu họ biết tôi đang ở gần đấy.

D: À, bởi vì cô đang nói về gia đình, tôi tự hỏi liệu anh ấy đã bao giờ kết hôn chưa. (Đây là một câu hỏi mẹo).

A: Ồ, không, chú ấy sẽ không bao giờ kết hôn đâu. Chú ấy đã ‘kết hôn’ với đức Chúa và niềm tin của mình. Và chú ấy cảm thấy đó là lý do để chú ấy sống. Chú ấy không thể chung thủy hay tận tụy với một người phụ nữ và gia đình.

D: Vậy thì những người sống trong ngôi nhà của gia đình đó hầu hết là anh em của anh ấy sao?

A: Vâng. Nhà của bố mẹ chú ấy. Chú ấy có anh em trong khu vực đó.

D: Tôi rất ngạc nhiên là anh ấy đang gặp vấn đề về gia đình. Tôi đã nghĩ rằng mọi thứ sẽ diễn ra suôn sẻ.

Tôi đang cố gắng tìm hiểu những gì đang xảy ra mà không quá xâm phạm đời tư hoặc quá trực tiếp.

A: Tôi nghĩ anh em của chú ấy có vấn đề gì đó.

D: Trước đây cô đã nói rằng cha cô cũng không gặp bố mẹ ông ấy thường xuyên. Đó có phải cũng là vì một vấn đề gia đình không?

A: Tôi nghĩ, từ những gì tôi nhớ đã nghe được, rằng cha của ông ấy đã gặp khó khăn khi thừa nhận chú ấy. Bởi vì người phụ nữ mà chú ấy gọi là mẹ… đã không ở lại với cha chú ấy.

D: Trước đây cô đã nói rằng ông ta và Nazarene là anh em cùng cha khác mẹ.

A: Tôi không biết liệu tôi có thể giải thích nó được hay không. Tôi nghĩ mẹ chú ấy không thể kết hôn với bố chú ấy. Và có một vấn đề. Và tôi biết bà ấy bị bệnh. Tôi nghĩ rằng tôi không biết tất cả mọi thông tin đâu.

D: Nói cách khác thì, cô nghĩ rằng Nazarene và cha của cô không có cùng một mẹ phải không? Cô có biết ai lớn tuổi hơn không? Cha của cô hay là Nazarene?

A: Cha tôi lớn tuổi hơn Nazarene.

D: Và đây là lý do khiến anh ấy không liên lạc với gia đình sao?

A: Vâng. Tôi nghĩ rằng có nỗi đau, rất nhiều đau đớn và bối rối và xấu hổ. Nhưng nó đã xảy ra lâu rồi.

D: Rõ ràng nó không làm phiền lòng Nazarene chút nào, phải không?

A: Tôi nghĩ chú ấy hẳn phải biết toàn bộ sự thật. Cha tôi và chú ấy đã làm việc cùng nhau, và tín ngưỡng của họ cũng giống nhau.

D: Tôi rất tò mò vì có vẻ như họ đang giữ bí mật. Cô có nghĩ vấn đề là ở những người anh em khác không? Cô nói rằng họ cũng đang gặp vấn đề gia đình, hay cô nghĩ đó là chuyện khác?

A: Vâng. Tôi nghĩ rằng có sự ghen tị, đại loại, và một số vấn đề.

D: Một ngày nào đó cô có thể biết toàn bộ câu chuyện, và cô sẽ có thể kể cho tôi nghe. Tôi có thể hiểu tại sao họ không muốn nói chuyện trước mặt cô. Tôi đoán họ không muốn bọn trẻ biết những vấn đề của gia đình. À, ở nước của cô, có phong tục đặt tên con trai lớn theo tên cha không?

A: Tôi nghĩ rằng phong tục là đặt tên cho trẻ con để tưởng nhớ ai đó, vì vậy họ sẽ tiếp tục sống mãi thông qua đứa trẻ đó.

D: Cô nói rằng cha của cô mang tên của cha ông ấy.

A: Đúng vậy ạ. Và tôi nghĩ bà tôi đặt tên cha là Joseph chỉ để giữ tình yêu và ký ức về người cha còn sống, bởi vì bà biết rằng mình không thể ở bên ông ấy.

D: Nhưng ông ta đã kết hôn với mẹ của Giê-su và những đứa trẻ khác?

A: Vâng. Tôi thực sự không biết liệu đó có phải là một căn bệnh mà bà ấy mắc phải có liên quan đến nó hay không.

D: Nhưng cô đã nói rằng cô không gặp ông bà của cô. Đó là vì họ ở quá xa, hay vì vấn đề này với việc ra đời của anh ấy?

A: Tôi đã được bảo rằng vì quá xa, nhưng tôi chắc chắn rằng cha tôi là một phần của vấn đề.

D: Tôi chỉ hỏi vì tôi tò mò mà thôi. Nếu cô đi với Nazarene, cô định sẽ làm gì? Cô có biết về bất kỳ nhiệm vụ nào của cô không?

A: Tôi sẽ tiếp tục học hỏi. Tôi hy vọng có thể hỗ trợ chú ấy theo bất kỳ cách nào chú ấy muốn. Tôi không ngại ở bên người bệnh, người nghèo hoặc những người đang rất cần. Tôi muốn có thể cống hiến và học hỏi những gì chú ấy làm để giúp đỡ và chữa lành. Và sống theo quy luật của đức Chúa Trời.

D: Cô có nghĩ rằng anh ấy có thể dạy cô những điều này không?

A: Tôi nghĩ chú ấy có thể.

D: Anh ấy có biết cách chữa bệnh cho mọi người không? Cô đã bao giờ thấy anh ấy làm bất cứ điều gì như vậy chưa?

A: Vâng. Tôi đã từng thấy— tôi vốn không nên ở đó. Chú ấy đã có một cuộc họp mặt trong làng của chúng tôi vào ban đêm. Tôi nhớ tôi đã lẻn ra ngoài, và tôi đã ẩn nấp. Và có một đứa trẻ… một người mẹ mang theo đứa con bị bệnh của mình đến. Tôi không rõ đứa trẻ này bị làm sao, nhưng tôi đã thấy chú ấy tiếp nhận nó và bế nó. Chú ấy đặt đứa trẻ trên đùi mình, và đặt tay lên nó. Và đứa trẻ ngừng khóc. Cơn sốt biến mất, và đứa trẻ khỏe mạnh (điều này được nói gần như kinh ngạc).

D: Cô có biết làm thế nào anh ấy có thể làm điều đó không?

A: Tôi không biết. Tôi nghĩ… chú ấy biết cách sống theo quy luật của Đức Chúa Trời. Và thông qua lòng yêu thương và sự quan tâm, chú ấy có thể tạo ra sự khác biệt, nếu nó vốn nên là như vậy.

D: Đây không phải là cách bình thường mà mọi người chữa bệnh ở thời của cô, phải vậy không?

A: Không. Chúng tôi có các thầy thuốc và họ thường chăm sóc những người bệnh. Nhưng tôi biết những gì tôi thấy đêm đó là một phép mầu. Tôi không biết đứa trẻ này đã bị gì. Nhưng nó đang khóc, da rất đỏ và đổ rất nhiều mồ hôi, và rất đau. Và nó từ trạng thái đó, trở nên bình tĩnh và sắc da trở về bình thường. Tôi hy vọng sẽ học được cách giúp đỡ theo cách này.

D: Sẽ là một điều rất tuyệt vời nếu cô có thể học được cách làm những điều như vậy. Cô có nghe nói về việc anh ấy thực hiện bất kỳ cách chữa bệnh nào khác giống như vậy nữa không?

A: Tôi đã nghe nói về việc chú ấy chữa bệnh cho một người đàn ông tàn tật. Và tôi nghe nói, nhưng tôi không thực sự biết. Tôi phải đợi và hỏi chú ấy.

D: Người ta đã nói thế nào vậy?

A: Ồ… làm thế nào mà chú ấy có thể cho mọi người thị giác hoặc chữa lành chân tay để mọi người có thể đi lại hoặc sử dụng chúng một lần nữa.

D: Nhưng cô không biết lời họ có đúng hay không sao?

A: Tôi hy vọng đó là sự thật. Tôi biết những gì tôi đã nhìn thấy. Nhưng có một số điều, cho dù bạn có tin vào đức Chúa Trời bao nhiêu đi nữa, thì cũng thật khó tin rằng một con người có thể làm được chúng.

D: Vâng, một người trần mắt thịt. Anh ấy hẳn phải là một người rất tuyệt vời nếu anh ấy có thể làm được những điều này.

A: Chú ấy thì… khác biệt. Bà biết đấy, khi bà nhìn thấy chú ấy hoặc nói chuyện với chú ấy, hoặc khi chú ấy chạm vào bà, chú ấy khác với bất kỳ ai khác mà bà từng gặp. Và đó là lý do tại sao chú ấy không bao giờ có thể… ở bên ai khác. Bởi vì đây là ý nghĩa cuộc sống của chú ấy, và chỉ có điều này. Và tôi biết chỉ nhờ vào tình yêu và những gì tôi đã nghe được từ những lời cầu nguyện và giọng nói trong tôi và từ đức Chúa Trời, rằng đây là cách tôi vốn phải sống. Tôi vốn phải sống độc thân và cống hiến hết mình cho những điều tôi tin tưởng.

D: Nếu đó là điều cô thực sự tin tưởng, tôi cho rằng làm bất cứ điều gì cô muốn là đúng.

A: Và tôi không cảm thấy mình là một đứa trẻ.

D: Cô có được nghe bất kỳ câu chuyện nào về những việc khác mà anh ấy đã làm, mà không như bình thường chưa?

A: Ồ… tôi nghe nói chú ấy đã ra đi và được giáo dục khác với những người ở trường học, hoặc trong đền thờ của chúng tôi. Và chú ấy đã học được những điều từ những nhà thông thái ở những đất nước xa xôi. Tôi nghĩ có lẽ họ đã dạy chú ấy nhiều về việc chữa lành, và làm thế nào mà nếu trái tim của người ta trong sáng và kết nối với Chúa, thì người ta có thể thay đổi thể chất và bản thân. Tôi nghĩ đây có thể là một phần của vấn đề ở nhà. Tôi nghĩ có lẽ có một số nghi vấn trong nội bộ gia đình của chú ấy. Nhưng…

D: Những nghi vấn kiểu thế nào vậy?

A: Về những gì chú ấy có thể làm. Những điều chú ấy đã được dạy. 

D: Họ có nghĩ điều này làm cho anh ấy khác biệt không? Có phải ý cô là vậy không?

A: Vâng. Và tôi không biết họ có tin không.

D: À, cô biết có nhiều cách giáo dục khác ngoài trường học của cô mà. Họ có thể đã dạy cho anh ta nhiều điều mầu nhiệm ở những vùng đất khác. Nhưng những người anh em khác không được phép làm điều này sao?

A: Không, tôi không nghĩ họ có mong muốn này. Tôi nghĩ rằng hầu hết họ muốn sống cuộc sống cơ bản như hầu hết người dân.

D: Vậy thì họ không nên ghen tị nếu họ không muốn có cuộc sống như thế này chứ.

A: Không. Nhưng tôi nghĩ có thể có một số nghi ngờ trong làng, và điều đó khiến cuộc sống của họ khó khăn hơn. Hoặc có thể họ đang cảm thấy xấu hổ.

D: Phải, có thể là vậy. Có lẽ vấn đề là vậy. Bởi vì những người này đã biết anh ta từ khi anh ta còn là một đứa trẻ, tôi cho là vậy.

A: Vâng. Và ai khác đã có khả năng làm được những điều này chứ?

D: Cô có nghĩ rằng họ có thể nghĩ rằng anh ấy đang giả mạo hay nó giống như một phép thuật nào đó không?

A: Tôi nghĩ rằng một số người trong số họ có nghĩ như thế.

D: Họ nghĩ rằng anh ta có thể đang cố đánh lừa mọi người. Tôi có thể thấy rằng điều đó sẽ gây ra vấn đề, nếu đó là điều khó tin.

A: (Thở dài) À, bây giờ tôi thấy chú ấy rồi.

D: Anh ấy có đến không?

A: Tôi nhìn thấy chú ấy… Tôi hình dung chú ấy trong tâm trí tôi ngay bây giờ, và chú ấy đang đi trên con đường. Và tôi thấy điều này… năng lượng trên đầu chú ấy, một chiếc vương miện lấp lánh trên đầu chú ấy.

D: Cô đã bao giờ thấy điều đó khi anh ấy hiện diện với cô, hay nó chỉ ở trong tâm trí cô lúc này?

A: Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nó trước đây.

D: Cô nghĩ nó có nghĩa là gì?

A: Tôi nghĩ nó có nghĩa là ‘sự thật’. Tôi nghĩ điều đó có nghĩa là phải kiên định và có niềm tin. Và không sao cả, khi đi cùng chú ấy.

D: Nghe có vẻ như anh ấy là một người rất tuyệt vời. Nhưng cô đã nghe những câu chuyện về bất cứ điều gì khác thường mà anh ấy đã làm, ngoài việc chữa lành chưa?

A: Tôi đã nghe… vâng, tôi nhớ bố mẹ tôi đã nói chuyện. Có người khác trong nhà. Tôi đoán họ nghĩ rằng tôi đã ngủ. Và họ nói, trong một khu vực đã phải chịu khổ vì không có mưa, và mọi người đang nghi ngờ chú ấy… thì chú ấy đã tạo ra mưa. Tôi đã nghe họ nói về điều đó. (Lặng lẽ, trong sự kinh ngạc 🙂 Tôi quên mất điều đó. Đôi khi điều này xảy ra xung quanh đây. Có một số năm mà chúng tôi nhận được rất ít nước mưa.

D: Chà, đó cũng sẽ là một dạng phép mầu, phải không?

A: Vâng. Nhưng điều chính yếu chú ấy muốn dạy là quy luật của Đức Chúa Trời để sống theo đấy, và cách để thực sự yêu thương nhau. Là việc bạn có thể sống trong hòa bình và không sợ hãi hay ghen tị. Là việc sống với lòng nhân ái là bản chất thực sự của con người. 

D: Nhưng đôi khi những điều này rất khó dạy cho người khác. Nghe thì có vẻ đơn giản vậy nhưng có người lại không muốn nghe.

A: Tôi biết. Đó là lý do tại sao chú ấy đã có những cuộc tranh luận trong Đền thờ. Bởi vì chú ấy thấy rằng nhiều cách thức của họ rất tàn nhẫn và thiếu tình yêu thương. Đó là lý do tại sao chú ấy đã đi trên con đường của chính mình để truyền dạy về quy luật của Đức Chúa Trời, và cách đàn ông và phụ nữ nên sống.

D: Những vấn đề mà anh ấy đã gặp phải với Đền thờ, đó là trước khi anh ấy bắt đầu đi ra ngoài và truyền giáo sao?

A: Vâng. Điều này khiến chú ấy phải ra đi.

D: Cô có biết chuyện gì đã xảy ra không?

A: Có nhiều hơn là một chuyện. Thực tế cũng là họ cũng không muốn làm gì nhiều để giúp đỡ những người khó khăn, nghèo khổ và đau khổ. Thực tế là họ đã có ít hiểu biết và thương xót khi nhìn vào các vấn đề của người dân và buông lời phán xét. Đó là vài thứ thôi.

D: Ý cô là họ rất phán xét phải không?

A: Rất phán xét và hà khắc. Và vô cớ.

D: Đây là tu sĩ hay giáo sĩ Do Thái vậy?

A: Vâng, là những giáo sĩ Do Thái. Chỉ có một cách cho mọi thứ. Và nó không công bằng và không nhân hậu trong nhiều trường hợp. Các giáo sĩ Do Thái đôi khi để cho vị trí và quyền lực của họ làm sai lệch đi những quyết định của họ. Họ là những người mà người ta tìm đến để giải quyết các tranh chấp và vấn đề. Và họ cảm thấy rằng họ đã trở thành Chúa, thay vì lắng nghe Chúa và cố gắng công bằng.

D: Quyền lực đôi khi có thể làm điều đó với con người.

A: Vâng. Vì vậy, thay vì cố gắng phục vụ và giúp giải quyết các vấn đề, đôi khi họ có xu hướng tạo ra nhiều vấn đề hơn. 

D: Vì vậy, họ đang cố gắng tuân thủ nghiêm ngặt Luật pháp, không có bất kỳ sự thương xót hay bất kỳ cách giải thích nào khác phải không? Và điều này khiến Giê-su tức giận hay sao?

A: Nó khiến chú ấy rất thất vọng. Chú ấy nhận ra rằng những gì chú đang nghe trong Đền thờ hoặc qua các giáo sĩ Do Thái không phải là những gì chú ấy cảm thấy Đức Chúa Trời đã mong muốn. Chú ấy không cảm thấy họ đang sống theo các Điều Răn. Chú ấy sẽ đặt câu hỏi về những gì họ đã nói, và hỏi tại sao nó không thể diễn ra theo cách này. Và họ không quen bị chất vấn.

D: Họ đã quen với việc lời nói của họ là Luật.

A: Đúng vậy. Và chú ấy sẽ đưa ra một giải pháp có thể giải quyết vấn đề khá tốt, thể hiện sự công bằng và lòng thương xót và bình đẳng. Và đã có những cách để những người là sai phạm sửa đổi. Vì vậy, chú ấy hẳn đã đưa ra các giải pháp và thách thức cách thức của họ, và điều này đã tạo ra nhiều vấn đề. Tôi nghĩ điều đó đã khiến các giáo sĩ Do Thái tức giận vì Nazarene đã rõ ràng hơn và công bằng hơn trong các giải pháp của mình. Nhưng Giê-su không thể đối phó với sự đạo đức giả và độc ác, bởi vì không phải là Đức Chúa Trời không yêu thương và không thương xót, mà chính là con người. Vì vậy, chú ấy cảm thấy rằng Đền thờ của chú ấy bây giờ là vùng đất, trái đất là sàn nhà, còn bầu trời là trần nhà. Chú ấy sẽ truyền bá quy Luật của Đức Chúa Trời và cố gắng trở thành một người thầy.

D: Nghe có vẻ rất tuyệt vời. Tôi có thể hiểu tại sao họ lại coi anh ta là kẻ nổi loạn, nếu anh ta đi ngược lại những lời dạy của thời đại mình. Làm thế nào anh ấy tìm thấy được nhóm người đi theo mình vậy? Hay họ đã tìm thấy anh ấy?

A: Luôn có người đã cảm thấy như chú ấy cảm thấy, nhưng lại quá sợ hãi. Vì vậy, các cuộc họp mặt cứ bắt đầu ở nhiều nhà khác nhau và thông qua truyền miệng. Và mọi người cứ theo thôi.

D: Và sau một thời gian họ muốn ở lại với anh ấy? Đó có phải là ý của cô không?

A: Vâng. Bởi vì khi người ta nghe chú ấy nói, người ta sẽ biết rằng đấy là sự thật. Chú ấy nói từ trái tim mình và từ Chúa.

D: Anh ấy nghe có vẻ là một người tuyệt vời. Tôi có thể hiểu tại sao cô lại muốn theo chân anh ấy. Lúc nãy cô nói về ngôi làng của mình, nhưng tôi đã tưởng cô sống ở Jerusalem chứ.

A: Vâng, đó là Jerusalem, nhưng có một số phân đoạn nhỏ.

D: Tôi đang cố gắng hiểu ý của cô. 

A: Có nhiều khu vực thuộc thành phố này. Phần này? Họ gọi nó là phía Đông, và nó từng được gọi là Cổng Đông. Vì vậy, tôi nghĩ những phần khác nhau này có tên từ nhiều cổng khác nhau của Đền thờ. Tôi đoán những ngôi làng này được hình thành bởi những người có cùng tín ngưỡng sống gần nhau hơn là những người không cùng. Và tôi đoán cũng tùy thuộc vào sự giàu có nữa.

D: Có tường bao quanh Đền thờ, có cổng không? Tôi đang nghĩ về một cánh cổng thường là một bức tường nào đó.

A: Vâng. Đây ban đầu là một ngôi đền lớn, có một bức tường bao quanh và nhiều lối vào khác nhau. Vì vậy, đây là phía Đông. Chúng có nhiều tên khác nhau, nhưng tất cả đều là thành phố Jerusalem.

Josephus cho biết trong các bài viết lịch sử của mình rằng Thung lũng Tyropoeon đã chia Jerusalem thành hai phần phía đông và phía tây một cách tự nhiên. Chúng được gọi là Thành phố Thượng và Thành phố Hạ. Có vẻ như Naomi đang nói rằng cô ấy sống ở Thành phố Hạ, nằm ở phía đông.

D: Có tòa nhà lớn nào quan trọng khác ngoài Đền thờ không?

A: Ngôi đền là công trình lớn nhất, quan trọng nhất. Nhưng có những tòa nhà lớn khác, văn phòng chính phủ, văn phòng chính thức, tòa nhà lưu trữ, trường học.

D: Vậy thì đó là một thành phố lớn rồi. Tôi nghe nói có thể có các loại đền thờ khác ở đó, ngoài các đền thờ của người Do Thái. Điều này có đúng không?

A: Tôi nghe nói về các tín ngưỡng khác, hoặc các trường khác mà họ gọi là đền thờ.

D: Cô đã từng đến những ngôi đền đó chưa?

A: Chưa, chưa từng.

D: Cô có biết người La Mã là gì không?

A: Có. Và họ có những tòa nhà riêng, trường học riêng, nơi thờ cúng riêng. Chúng tôi cố gắng giữ bản thân mình tránh họ càng xa càng tốt.

D: Tôi có thể hiểu điều đó. Cô có bao giờ nhìn thấy bất kỳ người lính nào không?

A: Không thường xuyên lắm. Không ở xung quanh khu vực của chúng tôi, trừ khi họ đang tìm kiếm ai đó.

D: Có chợ nào ở Jerusalem không?

A: Có. Có một khu vực chính của thị trấn. Và có một cái chợ ở đó. Và bà có thể mua bất cứ thứ gì bà có thể cần ở đó. Đó là một khu vực cụ thể của thị trấn. Và có rất ít… tất cả chúng đã được thiết lập. Với đồ gốm và thực phẩm và… họ chỉ là những hàng nhỏ xếp lên xuống khu vực mà họ gọi là chợ. Nó ở bên ngoài.

D: Có gần nơi cô sống không?

A: Vâng, có ạ. Tôi đi bộ đến chợ. Có nhiều hơn một khu chợ trong thành phố này, nhưng có một khu chợ không quá xa chúng tôi.

D: Những cánh cổng bên trong bức tường này, chúng trông như thế nào?

A: Chà, tôi được biết rằng chúng đã thay đổi. Nhưng hiện tại, chúng được làm bằng gỗ, và chúng là hai cánh cửa mở ra. Và chúng cao, rất cao và nặng.

D: Nếu chúng đã thay đổi, vậy trước đây chúng là gì?

A: Tôi đã được kể lại rằng chúng phải được xây dựng lại, vì vậy chúng được xây dựng cao và vững mạnh hơn.

D: Tại sao chúng được xây dựng lại vậy?

A: Tôi nghĩ rằng một lần, đã có vấn đề với những người lính. Và họ đã dạy cho những người trong Đền thờ của chúng tôi một bài học. Có một cuộc nổi loạn vì người La Mã muốn chúng tôi cung cấp thêm ngũ cốc cho họ. Và chúng tôi đã có những năm bị hạn hán. Vì vậy, có một cuộc nổi loạn, và họ đã phá hủy một phần của bức tường đó và một phần của Đền thờ. Tôi nghĩ rằng một phần của ngôi Đền đã được xây dựng lại. Người La Mã đã mang lại cho chúng tôi nhiều phiền phức với luật lệ, và sự thiếu hiểu biết của họ.

D: Người La Mã là những người cai trị hay thế nào?

A: Phải, họ có quyền kiểm soát. Nhưng đối với chúng tôi, đối với những người thuộc Đền thờ Do Thái giáo, chúng tôi cảm thấy người cai trị là giáo sĩ Do Thái. Nhưng người La Mã có những luật lệ, quyền lực và sự kiểm soát khác.

D: Tôi nghĩ cô từng nói với tôi một lần rằng mọi người cũng có một vị vua?

A: Người La Mã. Nhà vua kiểm soát, ban sắc lệnh cho tất cả mọi người. Vua người La Mã.

D: Tôi cho rằng là con gái, cô sẽ không thực sự phải biết nhiều về điều này.

A: Không, tôi chọn không. Tôi chọn không thừa nhận hầu hết bọn họ, từ những mẩu thông tin mà tôi đã biết hoặc nghe nói. Tôi thực sự không quan tâm đến việc biết về họ, hay luật lệ của họ. Họ đã gây ra cho chúng tôi nhiều khốn khó. Tôi muốn dành năng lượng của mình để sống một cuộc đời dạy và học, vì lợi ích của tất cả mọi người. Vì vậy, mọi người có thể sống cùng nhau, cho dù họ là người La Mã hay Do Thái hoặc theo các tín ngưỡng khác.

D: Nhưng đối với một quốc gia, thì mọi người phải tuân theo những gì người La Mã nói phải không?

A: Vâng. Chúng tôi vẫn sống hòa bình được một thời gian tính cho đến giờ.

D: Vậy thì tốt rồi. Cảm ơn cô đã cho tôi biết thông tin đó, vì tôi đã khá băn khoăn về điều kiện trong nước. Cô nói cô đang đợi Nazarene đến phải không? Cô đang làm gì để chuẩn bị vậy?

A: Tôi chỉ đang làm công việc hàng ngày thôi, nhưng tôi cảm thấy rằng chú ấy sẽ ở đây với chúng tôi rất sớm thôi. Và tôi đã sẵn sàng. Tôi có áo choàng để mặc, và tôi đã sẵn sàng ra đi. Và đất nước không hoàn toàn an toàn. Bất cứ lúc nào bà ra khỏi thành phố hay đi xa, đều có thể có những băng người trộm cắp và giết người, cho dù họ có phải là người La Mã hay không.

D: Vì vậy, ngoài đó không thực sự an toàn, phải không?

A: Không phải lúc nào cũng an toàn. Chúng ta chỉ là không biết được.

D: Đó có phải là lý do tại sao cô lại muốn cải trang thành con trai không?

A: Để tôi sẽ được chấp nhận nhiều hơn.

D: Không nhất thiết vì cô sẽ được an toàn hơn sao?

A: Đúng vậy ạ.

D: Cô có nghĩ rằng họ sẽ không chấp nhận những điều này từ một người phụ nữ không?

A: Họ sẽ khó chấp nhận hơn. Phụ nữ không được phép tiếp nhận giáo dục như đàn ông. Họ phải chăm sóc tổ ấm và những đứa trẻ nhỏ hơn, vì vậy đó là những gì tôi đã làm. Và tôi đã giúp mẹ tôi chăm sóc những đứa trẻ mà bà giữ ban ngày.

D: Đây là tất cả những gì được mong đợi ở một người phụ nữ, vì vậy họ nghĩ rằng cô không thể có nhiều kiến ​​thức. Bây giờ chúng ta hãy dịch chuyển thời gian về phía trước cho đến khi anh ta ở đó, khi anh ta đã đến nơi, và chúng ta sẽ tìm hiểu xem điều gì sẽ xảy ra. Tôi có cần đếm không, hay cô đã ở đó rồi?

A: Không ạ, tôi thấy chú ấy. (Tạm dừng) Chú ấy đang ở cùng với ba người đàn ông khác. Và chú ấy bước vào và đang nói chuyện với bố tôi ở trong cửa hàng của ông ấy. Và… bây giờ chú ấy đang đi vào. Chú ấy chào tôi. Và tôi cho chú ấy biết rằng tôi đã đưa ra quyết định của mình. Và đó là điều duy nhất tôi phải làm trong cuộc đời này, đó là đi cùng chú ấy. Và giảng dạy và phục vụ bất kỳ ai trong số những người mà chú ấy muốn tôi giúp đỡ, cho dù họ có ốm đau, nghèo khó hay cần bất cứ điều gì hay không.

D: Anh ấy nói gì?

A: (Tạm dừng) Chú ấy nhìn tôi, và ôm lấy khuôn mặt của tôi trong tay chú ấy, và với đôi mắt vượt xa ngoài thế giới này, chú ấy biết… chú ấy biết chú ấy không thể nói điều gì để ngăn cản tôi được. Và chú ấy nói, vậy thì sẽ như vậy. Và bây giờ mẹ tôi đã vào. Tôi phải nói với mẹ và cha ngay bây giờ. Và tôi nói với họ rằng tôi đã làm hết sức mình, nhưng trong thời gian qua tôi đã rất yên lặng, tôi đã cầu nguyện và tôi biết đức Chúa Trời muốn tôi làm gì. Tôi đã lắng nghe những giọng nói trong tôi. Và tôi biết rằng không một người đàn ông nào có thể tìm được hạnh phúc với tôi. Rằng tôi sẽ tan nát trái tim khi ở lại đây và cố gắng kết hôn và lập gia đình, bởi vì đó không phải là tiếng gọi của tôi. Vì vậy, tôi hy vọng họ sẽ hiểu, và tìm thấy tình yêu trong trái tim họ dành cho tôi. Nhưng tôi phải đi trên chuyến hành trình này.

D: Họ phản ứng thế nào?

A: Mẹ đang khóc. Và cha đã trở nên trầm mặc. Nhưng Nazarene nói, ‘Đứa bé gái này nói từ trái tim mình, và biết rằng chỉ có một sự thật duy nhất đó thôi. Vậy nên, sẽ như thế. Cô bé có thể đi bên cạnh tôi trong yên bình khi biết được về sự bảo vệ và yêu thương của tôi. Và cô bé sẽ giúp đỡ tôi và học cách sống theo quy Luật của Đức Chúa Trời, và phụng sự bất cứ nơi nào cô bé được cần đến.’

D: Và nếu anh ấy muốn cô đi, thì họ không thực sự có thể nói gì nhiều phải không?

A: Không. Tôi nghĩ rằng vì tôi đã kiên nhẫn và im lặng trong những tháng qua, họ biết rằng dù sao thì tôi cũng sẽ làm điều này.

D: Họ biết đó không chỉ là một sự bốc đồng của trẻ con.

A: Đúng vậy. Và chú ấy biết tôi sẽ đi cùng chú ấy.

D: Khi nào anh ấy sẽ rời đi?

A: Vào buổi sáng, chú ấy đang đi đến một khu vực trong nước mà mọi người đang bị bệnh nặng và cần nghe những lời dạy của chú ấy, để họ có thể tìm thấy niềm tin và hy vọng và một lý do để tiếp tục sống. Chú ấy nói người ta gọi những người này là ‘những bệnh nhân phong’. Họ mắc một căn bệnh rất đáng buồn.

D: Cô có nghĩ rằng cô sẽ có thể đi vào một khu vực như thế, với rất nhiều người bệnh không?

A: Vâng. Đây là lý do tại sao tôi ở đây mà.

D: Những người khác có đi cùng anh ta không?

A: Chú ấy có một nhóm thường đi cùng với chú ấy. Nhóm dường như thay đổi về quy mô, nhưng hầu hết những người đi theo chú ấy là nam giới. Thỉnh thoảng tôi có thấy phụ nữ, nhưng họ là những phụ nữ lớn tuổi.

D: Không ai bằng tuổi cô.

A: Đúng vậy. Nên tôi đã sẵn sàng rồi.

D: Vậy cô sẽ rời đi vào buổi sáng. Cô đã cắt tóc chưa? Cô nói rằng cô sẽ cắt tóc để cải trang phải không?

A: Tôi nghĩ rằng tôi sẽ làm điều đó một khi tất cả mọi người đã đi ngủ. Tôi không muốn làm họ đau lòng thêm nữa. Tôi sẽ nhớ những đứa trẻ mà mẹ tôi chăm sóc. Chúng đã mang lại cho tôi nhiều niềm vui. Nhưng tôi biết cha mẹ tôi có công việc riêng mà họ phải làm, và ở nơi họ phải ở.

D: Dĩ nhiên là, cô luôn có thể quay trở lại nếu nó không phù hợp.

A: Vâng. Chúng tôi sẽ trở lại theo cách này.

D: Được rồi. Hãy tiếp tục di chuyển thời gian đến buổi sáng, khi cô chuẩn bị rời đi cùng với anh ấy, và cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra nào.

A: (Thở dài) À… tôi đang tràn ngập tình yêu cùng hạnh phúc. Nhưng… chỉ là hơi buồn thôi. Bởi vì tôi đang nói lời tạm biệt với một cuộc sống mà tôi đã biết, và tôi đang bắt đầu một cuộc sống khác. (Buồn bã) Nhưng tôi ôm mẹ và hôn bà, và để bà biết rằng tôi sẽ ổn thôi. Tôi phải làm điều này, và tôi thương bà ấy. Còn cha tôi thì rơm rớm nước mắt. Chúng tôi ôm nhau. Và… tôi chỉ nhìn lại lần cuối. (Tất cả điều này được nói ra với một cảm xúc sâu sắc. Rồi cam chịu, hoặc cương quyết 🙂 Vì vậy, tôi đã sẵn sàng để đi ngay bây giờ.

D: (Thật xúc động, tôi cảm thấy như thể mình đang xâm phạm riêng tư vậy). Đây sẽ là một cuộc sống hoàn toàn mới, phải vậy không?

A: (Một tiếng thở dài 🙂 Vâng.

D: Cô chưa bao giờ thực sự đến bất cứ nơi nào ngoài Jerusalem, vì vậy nó cũng sẽ là một cuộc phiêu lưu nữa, phải không nào?

A: (Nhẹ nhàng 🙂 Vâng.

D: Điều mà các cô gái trẻ thường không làm được. (Tôi phải làm cho tâm trí cô ấy thoát khỏi nỗi buồn). Có bao nhiêu người trong nhóm sẽ đi cùng cô hôm nay?

A: Dường như có… mười hai, tính luôn tất cả chúng tôi.

D: Tính luôn cả cô và Giê-su nữa?

A: Vâng, vâng.

D: Cô có biết ai trong số những người khác không?

A: Họ trông khá quen thuộc. Chủ yếu là vì tôi đã nhìn thấy họ đi cùng chú ấy, hoặc thấy khi tôi lẻn đến các cuộc họp đó. Nhưng tôi không biết ai cả.

D: Tôi tưởng tượng trước khi kết thúc, cô sẽ biết họ là ai, và cô sẽ biết tên của họ. Cô có thể sẽ biết tất cả họ rất rõ. Tôi tự hỏi họ nghĩ gì về việc cô đi cùng.

A: Tôi nghĩ rằng họ đang đi trên một con đường tương tự như tôi, vì vậy họ sẽ chấp nhận tôi.

D: Cô sẽ phải tìm thức ăn và nơi ở và những thứ tương tự, phải không?

A: À, vào thời điểm này trong năm, trời thường đủ ấm để dựng những túp lều nhỏ để ngủ. Và có vẻ như có bình đựng nước và thức ăn. Vì vậy, tôi nghĩ rằng họ phải chuẩn bị cho khoảng thời gian họ cần phải đi, hoặc có những nơi mà họ biết rằng họ có thể dừng lại.

D: Có con vật nào đi cùng với cô không? Tôi tự hỏi hành trang được mang theo bằng cách nào.

A: Một số hành trang được cầm tay. Và tôi nhìn thấy một con vật thồ nhiều gói hàng, một… con lừa dường như thồ đầy một số thứ. Và hình như có một con dê, nhưng tôi không biết liệu con dê đó có đi với chúng tôi hay không. Tôi nghĩ chủ yếu khi họ cần nguồn cung cấp, họ biết nên dừng ở đâu.

D: Cô có mang theo bất cứ thứ gì bên mình không?

A: Có ạ. Tôi có một cái bao vải đựng nhiều thứ khác nhau. Tôi có một cái chăn và những thứ cá nhân. Và chỉ đồ cần thiết mà thôi.

D: Tôi tự hỏi liệu có bất kỳ đồ vật cá nhân hoặc bất kỳ thứ gì mà cô không thể để lại hay không. 

A: À… tôi… (cô ấy có vẻ ngượng ngùng) Tôi vừa lấy những thứ cần thiết nhất mà tôi cần rồi. Đó là nói đến… Ý bà là một vật cá nhân, một vật yêu thích sao ạ?

D: Phải đấy. Một thứ gì đó mà cô không thể bỏ lại ấy.

A: Tôi có một chiếc bùa hộ mệnh để giữ hoặc đeo quanh cổ. Nó đã ở bên tôi từ khi tôi còn là một đứa trẻ nhỏ rồi.

D: Nó trông như thế nào?

A: Nó được rèn bởi cha tôi khi tôi còn nhỏ. Và nó có một biểu tượng… ồ, tôi đoán đó là một ngôi sao, một ngôi sao sáu cánh. Nhưng đối với tôi nó là một biểu tượng của tình yêu thương và đức Chúa Trời. Và chắc hẳn ông ấy đã làm nó cho tôi khi tôi mới năm tuổi.

D: Nó có ý nghĩa quan trọng gì khác ngoài việc cha cô tặng nó cho cô không?

A: Ồ, ông ấy đã viết một chữ cái lên đó, và chữ cái này tượng trưng cho sự sống. Và đây là trung tâm của ngôi sao này. Nó là ‘Ah-hi’ (phiên âm).

Người đàn ông Do Thái đã giúp tôi về một số chi tiết trong tiếng Do Thái này cho biết từ chỉ sự sống được đánh vần theo phiên âm: Chai. và có lẽ là từ được nói đến, mặc dù nó được ký hiệu bằng hai ký hiệu trong ngôn ngữ Hebrew. Phần tâm của Ngôi sao David là một khoảng trống, và chắc chắn có thể kết hợp hai biểu tượng thành một để đặt một hình vẽ ở đó.

D: Đó là tên của chữ cái sao?

A: Và nó có nghĩa là sự sống.

D: Ngôi sao sáu cánh có ý nghĩa gì không?

A: Đây là Ngôi sao David. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong Do Thái giáo. 

D: Nhưng hầu hết các bùa hộ mệnh không có chữ cái phải không?

A: Không. Ông ấy đã làm nó cho tôi.

D: Vậy thì nó sẽ là một vật có ý nghĩa rất riêng tư để mang theo bên mình.

A: Vâng. Tôi không nói với hầu hết mọi người về điều này (cười xấu hổ).

D: À, đó là chuyện cá nhân mà. Và tôi có thể hiểu ý nghĩa của nó đối với cô. Nó sẽ được mang theo bên mình như một phần của tổ ấm. Có phải sẽ mất nhiều ngày để đi đến được nơi mà cô sẽ đến không?

A: Tôi được bảo rằng chuyến đi bộ này sẽ kéo dài một ngày rưỡi, tôi đoán là tùy thuộc vào năng lượng và sức khỏe của mọi người, sức nóng và tất cả. Nhưng chắc là mất khoảng đấy thời gian.

D: Cô có biết cô đang đi theo hướng nào từ Jerusalem không?

A: Để tôi xem. Có vẻ như chúng tôi đang đi về hướng… đông và nam, phải.

D: Vùng đất ở hướng đó trông như thế nào?  

A: À… ngay bây giờ tôi thấy một số đồi và cát. Và khi chúng tôi tiếp tục bước đi, tôi thấy màu xanh ở phía xa. Tôi thấy một vài cây ở các nơi. Nhưng tôi thấy rất nhiều sa mạc ngoài trời.

D: Vậy thì trời hẳn sẽ nóng lắm. Vùng đất quanh Jerusalem cũng trông như vậy sao?

A: Jerusalem, bởi vì người ta có suối và nước, nên có một số vùng cây cối xanh tươi, và có những ngọn đồi. Không phải tất cả đều là sa mạc.

D: Có vẻ như hành trình phía trước của cô sẽ khó khăn đấy. Nhưng nếu cô quyết tâm đi thì thật tuyệt vời. Được rồi. Tôi muốn rời đi và để cô tiếp tục cuộc hành trình của mình.

Sau đó tôi đưa Anna trở về trạng thái hoàn toàn tỉnh táo. Naomi rút lui, để chờ lần sau cô sẽ được gọi đến để tiếp tục câu chuyện của mình.

Ý nghĩa của những gì Naomi muốn làm với cuộc sống của cô ấy, và sự dũng cảm mà cô ấy thể hiện khi rời khỏi nhà cha mình, đã không được làm rõ cho đến khi tôi nghiên cứu về các phong tục thời đó. Trong thời Chúa Giê-su, người Do Thái sống nghiêm chỉnh theo Luật, Kinh Torah, hay Luật Moses được tìm thấy trong những quyển Kinh Cựu Ước đầu tiên. Những quy tắc này chi phối mọi thứ trong cuộc sống của họ, và là điểm tranh chấp giữa các thầy tư tế và Chúa Giê-su. Ông đã được dạy để diễn giải về Luật một cách khác biệt và công bằng hơn trong khi ông học với những người Essene. Ông nghĩ rằng khi các thầy tư tế quá hà khắc, họ đã quên mất tính cá nhân và việc hoàn cảnh có thể ảnh hưởng đến cách mà những quy tắc này có thể được áp dụng. Trường hợp phụ nữ được đối xử như thế nào trong nền văn hóa đó là một ví dụ. Tại Qumran, quê hương của người Essene, phụ nữ được đối xử bình đẳng như nam giới. Họ được dạy bất cứ thứ gì họ muốn học, và nhiều người đã trở thành cô giáo. Trong quyển Chúa Giê-su và những người Essene, chúng ta đã khám phá ra rằng Chúa Giê-su có nhiều nữ môn đồ, một điểm mà đã biến mất khỏi Kinh thánh trong nhiều lần sửa đổi và loại trừ.

Chúa Giê-su đã nói với những người bình thường trong các dụ ngôn. Ông trình bày những giáo lý của mình thành những bài học được thiết lập theo khuôn mẫu từ những điều trong cuộc sống hàng ngày của họ mà họ có thể hiểu và liên hệ đến. Các môn đồ của Chúa Giê-su được dạy các quy luật siêu hình của vũ trụ, các phương pháp chữa lành và thực hiện thứ mà được gọi là “phép mầu”, bởi vì họ được đào tạo để có thể hiểu được những điều này. Có thể tranh luận xem liệu ông ta có tìm thấy ai mà ông ta có thể chia sẻ tất cả những gì mình biết không. Kinh thánh không đưa ra bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy ông đã từng tìm được. Ông nhận thấy rằng phụ nữ có thể nắm bắt được những lời dạy của ông nhiều hơn vì khả năng thiên bẩm về trực giác của họ. Đến lúc các nữ môn đồ của mình ra ngoài truyền bá giáo lý, ông biết họ sẽ gặp nhiều nguy hiểm hơn nam giới, vì vậy ông đã ghép họ với một người đồng hành là nam giới, để đảm bảo an toàn cho họ. Việc Chúa Giê-su tôn trọng sự bình đẳng phụ nữ cũng thể hiện qua sự bênh vực của ông đối với cô kỹ nữ đang có nguy cơ bị ném đá. Tất cả những điều này đã gây tranh cãi vì chúng trái với lời dạy của Luật (ứng xử). Điều này có thể hiểu được khi chúng ta biết phụ nữ đã được đối xử như thế nào ở Palestine trong suốt thời gian đó.

Theo kinh Torah, một người phụ nữ thấp hơn một người đàn ông. Phụ nữ không tham gia vào đời sống ngoài xã hội. Việc phụ nữ (đặc biệt là các cô gái chưa lập gia đình) ở trong nhà là phù hợp và được mong đợi. Họ không được rời khỏi nhà mà không có người hộ tống, và khi họ đi, họ được cho là sẽ không bị quan sát ở nơi công cộng. Các khu chợ và hội trường, tòa án luật, các cuộc tụ tập và họp mặt, nơi tập hợp một số lượng lớn người – nói tóm lại, tất cả cuộc sống ngoài xã hội – là thích hợp cho nam giới, nhưng không thích hợp cho phụ nữ. Trong các bữa tiệc thịnh soạn lớn, diễn ra tại Nữ Cung ở Đền thờ, đám đông quá lớn đến mức cần phải xây dựng các phòng trưng bày dành cho phụ nữ, để tách họ khỏi nam giới. Họ có thể tham gia vào dịch vụ giáo đường địa phương, nhưng có những hàng rào mắt cáo ngăn cách khu vực của phụ nữ, và họ thậm chí có lối vào đặc biệt của riêng mình. Một người phụ nữ không có quyền làm chứng trong các vấn đề pháp lý, bởi vì Luật pháp kết luận rằng cô ấy có thể là người nói dối.

Một số quy tắc này khó thực thi, vì lý do kinh tế. Nhiều phụ nữ đã phải phụ giúp chồng trong các công việc của họ, chẳng hạn như bán đồ đạc của họ hoặc làm việc trên cánh đồng. Tuy nhiên, một người phụ nữ không thể ở một mình trên cánh đồng, và theo phong tục, ngay cả ở vùng quê, một người đàn ông không thể bắt chuyện với một người phụ nữ lạ. Phong tục này thường bị Chúa Giê-su phá bỏ, trước sự ngạc nhiên của các môn đồ nam của ngài. Ông ấy cởi mở trò chuyện với phụ nữ ở bất cứ nơi nào ông ấy tìm thấy họ. Các phép tắc ứng xử đúng cấm một người đàn ông ở một mình với một người phụ nữ, nhìn một người phụ nữ đã có gia đình, hoặc thậm chí chào hỏi cô ấy. Thật đáng hổ thẹn cho một học giả khi nói chuyện với một người phụ nữ trên đường phố. 

Sự hiểu biết về phong tục này cũng cho thấy rằng phụ nữ có nguy cơ bị lên án và bị chỉ trích nặng nề vì dám bôi bác truyền thống bằng cách đến nghe anh ta nói. Một vài trong số những điều này có thể là lý do tại sao ông ấy lại thu hút những người phụ nữ như vậy. Đây là một người đàn ông đối xử với họ khác biệt với cách mà bất kỳ người đàn ông nào từng đối xử với họ trước đây. Chẳng có gì ngạc nhiên khi họ lại đem lòng yêu ông ấy.

Giáo dục của phụ nữ chỉ giới hạn trong các môn nghệ thuật tại gia, đặc biệt là nấu ăn, may vá và dệt vải, và chăm sóc trẻ nhỏ. Vợ và con gái hoàn toàn chịu sự quản lý của người đàn ông trong nhà, mà không có quyền gì cả. Bổn phận của người vợ là phải vâng lời chồng, con cái phải kính cha trước kính mẹ. Người cha đã có toàn quyền đối với một cô con gái, cho đến năm mười hai tuổi. Cô gái thậm chí có thể bị bán làm nô lệ nếu cần thiết. Năm mười hai tuổi, cô đã trở thành một thiếu nữ đủ tuổi, và người cha sẽ sắp xếp một cuộc hôn nhân cho cô. Đối tượng sở hữu và nhận được sự phục tùng tuyệt đối của cô sau đó sẽ được chuyển từ cha cô sang chồng cô.

Phong tục này giải thích tại sao Naomi lại lo lắng cho số phận của mình nếu cô vẫn ở trong nhà của cha mình. Tuổi thông thường để hứa hôn của một cô gái là từ mười hai đến mười hai rưỡi, và hôn lễ thường diễn ra sau đó một năm. Naomi đã cứ nói rằng cô ấy chưa đến mười ba tuổi, và cô ấy không muốn kết hôn và sống một cuộc sống bình thường. Đây là tương lai duy nhất mà cô có thể biết trước hoặc mong đợi. Cô biết nếu cô không bày tỏ mong muốn của mình, mà chưa từng được nghe đến từ một người phụ nữ nào trước đây, thì cô sẽ bị mắc kẹt vào một cuộc sống mà cô không thể chịu đựng được. Điều này giải thích tại sao yêu cầu rời khỏi nhà và theo chú của cô ấy, Chúa Giê-su, là rất phi thường. Nó chắc chắn sẽ không được ưng thuận trong những trường hợp bình thường. Bằng cách công khai thử thách các phong tục của dân tộc mình, Naomi cho thấy cô là một cô gái trẻ khác thường. Nó cũng giải thích lý do tại sao cô ấy nhất quyết cắt tóc và mặc quần áo như con trai. Một cô gái trẻ bị nghiêm cấm xuất hiện một mình ở nơi công cộng, chưa nói đến việc có được phép đi cùng một nhóm người hay không. Cô cũng cải trang khi lẻn ra ngoài để tham dự các cuộc họp bí mật. Những điều này sẽ được chấp nhận đối với một cậu bé, nhưng không bao giờ là đối với một cô gái.

Các trường học, như tôi đã giải thích trước đó, là các trường tôn giáo để nghiên cứu và hiểu về Luật ứng xử. Ngoại trừ đọc và viết, không có gì khác được dạy. Giáo dục chỉ dành cho các bé trai Do Thái, không phải cho các bé gái. Vì vậy, một người phụ nữ sẽ không bao giờ được phép giảng dạy. Quy tắc này có vẻ mâu thuẫn với cuộc đời của Abigail trong phần đầu của cuốn sách này, khi cô được chỉ định làm giáo chức tại Đền thờ. Nhưng Abigail đã nói rõ rằng cô không phải là một người Do Thái, vì vậy cô không bị ràng buộc bởi các quy tắc của kinh Torah. Điều này cũng có thể giải thích lý do sâu xa hơn tại sao các tu sĩ dường như coi thường cô ấy và sự khôn ngoan của cô ấy, và tại sao họ tìm cách để khiến cô phải khuất phục.

Chỉ khi đối chiếu với bối cảnh này, chúng ta mới có thể đánh giá đầy đủ thái độ của Chúa Giê-su đối với phụ nữ. Các sách Phúc âm nói về những người phụ nữ đi theo ông, và đây là một điều chưa từng xảy ra trong lịch sử thời bấy giờ. Chúa Giê-su cố ý lật đổ tục lệ khi ông cho phép điều này xảy ra. Ông truyền giáo cho phụ nữ và cho phép họ tham gia một cách cởi mở và thậm chí đặt câu hỏi, và John the Baptist đã rửa tội cho họ. Chúa Giê-su chưa bằng lòng với chỉ mỗi việc đưa phụ nữ lên một bình diện cao hơn so với thông lệ, mà ông còn muốn đưa họ đến trước mặt Đức Chúa Trời, ngang hàng với nam giới. Mọi điều Chúa Giê-su dạy đều mâu thuẫn và cấp tiến, theo quan điểm của người bình thường thời đó. Cả đàn ông và phụ nữ đều cần phải có nhiều can đảm khi đến dự các buổi họp mặt và lựa chọn theo loại tôn giáo mới của ông.

ĐỂ LẠI NHẬN XÉT

Please enter your comment!
Please enter your name here