SỰ HIỂN LỘ CỦA THÁNH ĐOÀN – Tiết Hai: Minh Họa Chung Về Thế Giới (Tiếp theo)

0
81

Tiết Hai

Cuộc Khủng Hoảng Thế Giới (The World Crisis)

Tháng 9 – 1939

Nhân loại đang trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và nghiệp quả hay vận mệnh của nhân loại đang đè nặng lên cuộc khủng hoảng đó. Vì rất gần với các diễn biến nhân loại không dễ gì thấy được các diễn biến này theo phối cảnh đích thực của chúng và chính là với mục đích giúp cho bạn có thể thấy được rõ ràng hơn mà ngày nay tôi viết ra điều này. Một linh thị rộng rãi và một chân trời bao la hơn có thể giúp cho bạn hiểu được, và có thể thuận lợi cho bạn nếu bạn có thể được trợ giúp để thấy được hình ảnh như nó hiện ra với chúng tôi, các huấn sư trên khía cạnh nội môn, và cũng có liên hệ với bối cảnh của nó.

Có hai điểm nổi bật và quan trọng hiện có trong ý thức của Thánh Đoàn khi Thánh Đoàn này xem xét mức độ tiến bộ của nhân loại qua cuộc tranh đấu lạ lùng hiện nay. Điểm thứ nhất là hiện nay nhân loại đang có mức độ hiểu biết rộng lớn đến nỗi những gì đang xảy ra hoàn toàn là việc làm riêng của nhân loại và là kết quả của các lỗi lầm riêng của nhân loại. Con người hoặc là cảm thấy có trách nhiệm đối với những gì đang xảy ra, hoặc họ đang đổ trách nhiệm một cách công khai và một cách có tính toán lên trên vai kẻ khác hơn chính họ. Đối với các lỗi lầm xa xưa và vô tận này, hiệp ước Versailles chỉ là một biểu tượng và điểm tập trung thực tiễn.

Sự kiện thứ hai là mặc dù có chiến tranh, có chia rẽ, có tàn bạo và đam mê và sự ích kỷ đang truyền lan bừa bãi, tuy nhiên, ngày nay có nhiều hiểu biết trung thực hơn, nhiều thiện chí hơn, và nhiều tình thương đang tuôn tràn hơn là bất cứ thời kỳ nào trước đây trong lịch sử nhân loại. Tôi nói ra điều này một cách có cân nhắc và bởi vì tôi đang có kiến thức của Thánh Đoàn trong tay. Do đó đừng để bị lừa dối bởi  tiếng ồn ào bên ngoài của chiến tranh. Tôi có nói với bạn rằng lòng người ở khắp nơi đều tràn đầy từ ái, cả cho chính họ lẫn cho mọi người khác; phạm vi rộng lớn và mức độ to tát của  sự xung đột là chỉ dẫn của sự hợp nhất bên trong và sụ tương quan bên trong của tất cả những gì có phần nào ý thức mà chính sự xung đột không chối bỏ. Có phải đây là một cách nói khó hiểu hay không? Tôi tìm cách nêu ra cho bạn chân lý căn bản của nó nếu bạn sẽ chỉ suy gẫm về những gì mà tôi nói với một thể trí rộng mở. Nhiệm vụ của tất cả những người tìm đạo và của tất cả những người có thiện chí ở khắp nơi là cảm nhận được rằng nỗi đau khổ kéo dài đó không làm xói mòn các thái độ thiết yếu và đúng đắn hiện nay và rằng sự hỗn mang và ồn ào không gạt bỏ được sự đáp ứng đối với tiếng nói của linh hồn đang được nói đến ngày càng rõ ràng trong mười bốn năm qua. Sự kích thích được tạo nên và ánh  sáng từ từ len vào sau buổi họp vừa qua của Thánh Đoàn năm 1925 là có thực và có hiệu quả. Cuộc họp đó của các Chân Sư Minh Triết trên các cõi giới tinh thần, đưa đến ba kết quả hay sự kiện trọng đại (happenings), và ngày nay chúng ta đang trải qua các diễn biến này.

Trước tiên là dòng lưu nhập (inflow) mới mẻ của nguyên khí Christ về tình thương tinh thần hay tình thương chân chính vốn không bao giờ mang tính chất đa cảm (emotionalism) và định tâm ích kỷ. Dòng lưu nhập này dẫn đến kết quả là có sự tăng trưởng nhanh chóng ngay trước mắt của mọi phong trào hướng về hòa bình, cảm thông trên thế giới, thiện chí, nỗ lực có tính bác ái và sự thức tỉnh của đa số con người đối với vấn đề tình huynh đệ.

Thứ hai là kích hoạt nguyên tắc về mối liên hệ và điều này đưa đến sự tăng trưởng và sự hoàn thiện của mọi nguồn truyền thông liên lạc với nhau như là báo chí, truyền thanh và du lịch. Mục đích bên trong của mọi điều này là đưa con người đến gần với nhau hơn ở bình diện bên ngoài của sự sống và như vậy về mặt khách quan, thích hợp với việc phát triển sự hợp nhất tâm linh bên trong.

Thứ ba là dòng lưu nhập (the inflow) của sức mạnh ý chí hay quyền năng từ trung tâm Shamballa. Như trước kia có giải thích, đây là mãnh lực mạnh nhất trên thế giới ngày nay, và chỉ có hai lần trước đây trong lịch sử nhân loại mà năng lượng Shamballa này xuất hiện và làm cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận qua các thay đổi vĩ đại được mang lại. Chúng ta hãy tóm tắt ngắn gọn như sau.

Lần thứ nhất là trong bước ngoặt vĩ đại của nhân loại xảy ra vào lúc có biệt lập ngã tính (1) của con người ở thời Lemuria xa xưa.

Lần thứ hai là vào thời kỳ đấu tranh ở thời Atlantis giữa “Các Tinh Quân Ánh Sáng với các Tinh Quân của Biểu Hiện Vật Chất” (“Lords of Material Expression”).

Năng lượng thiêng liêng ít được biết đến này hiện đang tuôn tràn từ Shamballa. Nó bao hàm trong chính nó năng lượng ẩn đang sau cuộc khủng hoảng thế giới vào lúc đó. Chính Thiên Ý tạo ra một số thay đổi tạm thời về chủng tộc trong ý thức cuả nhân loại, các thay đổi này sẽ làm thay đổi hoàn toàn thái độ của con người đối với sự sống và sự hiểu biết của con người về các điều cốt yếu có tính cách nội tâm, huyền bí và thuộc tâm linh của cách sống. Chính mãnh lực này sẽ mang lại (cùng với năng lượng của tình thương) cuộc khủng hoảng dữ dội đó – sắp xảy ra trong ý thức con người – mà chúng ta gọi là cuộc khủng hoảng thứ hai, sự khai mở/điểm hóa (initiation) của nhân loại vào Bí Pháp Muôn Đời, vào những gì đã bị che giấu từ thuở ban đầu.

Ở đây, có thể là hữu ích nếu chúng ta xem xét ba trung tâm hành tinh vĩ đại và các mối liên hệ của chúng dưới hình thức bảng liệt kê và như vậy có được ý tưởng chung trong trí một cách rõ ràng.

(1) Biệt lập ngã tính, biệt ngã hóa (individualisation)): con người ra khỏi giới thú vật (animal kingdom), đi vào giới nhân loại. (Trích Điểm Đạo Thái Dương và Nhân Loại, A.A.B. tr.10)

————————————————————————————————–

Hiện nay năng lượng Shamballa này, lần đầu tiên, đang tạo ra ảnh hưởng của nó trên nhân loại một cách trực tiếp và không suy giảm như là trường hợp từ trước đến giờ, nhờ được truyền chuyển xuyên qua Huyền Giai các Chân Sư. Sự thay đổi phương hướng này tạo thành một kinh nghiệm có phần nguy hiểm vì nó hẳn phải kích động vào phàm ngã con người, đặc biệt là những người có phàm ngã theo đường lối ý chí hay quyền lực và nơi họ khía cạnh bác ái của thiên tính không tự biểu hiện đầy đủ; tuy nhiên, nó được phép đưa ra bởi vì người ta nhận thức rằng nó sẽ không tác động đến người dân thường hay quần chúng, những kẻ này vẫn không đáp ứng được với nó, mặc dù nó có thể kích hoạt rất nhiều và

làm mạnh thêm thể trí giúp cho mẫu người này ngày càng có tiềm năng hơn.

Các hiệu quả của việc kích hoạt rộng lớn này đều đã được tiên liệu và cái thường được gọi là “cái hậu quả tệ hại” của thần lực Shamballa đặt lên trên các cá nhân có tham vọng và có thế lực trong mọi quốc gia và trong mọi trường phái tư tưởng, tuy thế, đã bị triệt tiêu đến một chừng mực nào đó, nhờ vào việc phát triển ý thức về mối quan hệ hữu hảo ở khắp nơi và nhờ vào việc trải rộng năng lượng của Đức Christ, năng lượng này tạo ra sự nhất quán, cảm thông bằng tình thương và thiện chí.

Ở đây bạn có thể đặt câu hỏi một cách chính đáng là làm thế nào mà điều này có thể xảy ra như thế khi nhân loại bị áp đảo bởi một cuộc thế chiến tệ hại vào lúc này. Tôi cần nhắc nhở bạn rằng Thánh Đoàn đạt tới các quyết định bằng sự hiểu biết tập thể (mass light) và bằng các phản ứng thường không được biểu lộ của chủ thể bên trong của đa số và không bao giờ bằng các biến cố bên ngoài trên cõi trần. Số phận của sự sống sắc tướng và của các cơ cấu bên ngoài, có vẻ ít quan trọng so với sự phát triển tâm linh bên trong. Tất nhiên sự phát triển đó phải vượt qua biểu hiện bên ngoài. Ngày nay nhân loại tiến xa về mặt tâm linh và trí tuệ hơn là có thể nhìn thấy theo các sự kiện bên ngoài. Sau rốt, kết quả đầu tiên của sự phát triển như thế là sự hủy diệt hình hài bên ngoài vì hình hài đó tỏ ra không thích hợp với sự sống tâm linh, nhịp nhàng bên trong; kế đó, kết quả thứ hai là việc tạo ra biểu hiện bên ngoài mới mẻ và thích hợp hơn. Điều này giải thích cho cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay. Nguyên nhân được dựa vào bốn yếu tố chính mà tôi xin bàn rộng ra ít nhiều :

   1.  Dựa vào trình độ tiến hóa mà nhân loại đã đạt được. Ngày nay, điều này biện hộ cho          việc tạo ra một hiện thể thích hợp cho sự biểu hiện của nhân loại và chủng tộc.

    1. Dựa vào các nguyên nhân do nghiệp quả mà – chừng nào còn xét về mặt nhân loại hiện tại – có thể được truy trở lại cuộc xung đột xưa kia vào thời Atlantis cổ.
    2. Dựa vào việc luân hồi của một số các phàm ngã có tiềm năng mà thiên chức hay vận mệnh của họ là mang lại các thay đổi tiến hóa vĩ đại.
    3. Dựa vào một số diễn biến trên hành tinh, có liên quan với sự sống của Đấng mà “trong Ngài, chúng ta sống, hoạt động và hiện tồn”. Các diễn biến này bao gồm việc tác động trên hành tinh chúng ta các Mãnh Lục và Năng Lượng vốn sẽ trở thành phương tiện để thay đổi nền văn minh và văn hóa hiện tại, khi đưa lên tột đỉnh tính tất yếu của Luật nghiệp quả và như vậy vạch ra sự giải thoát, để lộ cho nhân loại thấy chặng đường theo kinh nghiệm của vị đệ tử mà chúng ta gọi là “sự gặp gỡ của Tổng Quả Báo (Dweller on the Threshold) với Thiên Thần Bản Lai Diện Mục”, và kết quả là đem lại một khai mở nhất định trên hành tinh.

Bốn giai đoạn này của Luật Nhân Quả (như hiện nay nó đang tác động đến nhân loại) có thể được gọi là:

  1. Hoàn thiện của việc biểu lộ hình hài…….. Định Luật Tiến Hóa
  2. Xuất hiện đột ngột của nghiệp quả……….. Định Luật Nhân Quả
  3. Sự thành công của phàm ngã

(Tổng Quả Báo)……………………………………….. Định Luật về các Đối Cực

  1. Đạt được Điểm Đạo hành tinh…………….. Định Luật về Điểm Đạo

Ở điểm này có thể bạn nghĩ rằng tôi đang nói lý thuyết suông và rằng sự căng thẳng trên thế giới ngày nay lên đến mức mà lòng bác ái, lòng thiện cảm và các ngôn từ tinh tế đều cần hơn là sự hồi tưởng về lịch sử đã học được và các giả thuyết được đưa ra. Tuy nhiên tôi tìm cách nuôi dưỡng trong bạn tinh thần hiểu biết. Sự hiểu biết đích thực đó bắt buộc là hiểu biết hàng đầu (head knowledge) cũng  như phản ứng đầy nhiệt tình. Ngày nay các đệ tử trên thế giới phải nỗ lực để thấy tại sao và với mục đích gì mà các diễn biến khủng khiếp hiện tại đã xảy ra. Cần phải diễn tả rõ ràng và  nêu ra các nguyên nhân – không để cho khuynh hướng tình cảm chen vào và không mang tính chất thiên lệch. Những gì đang xảy ra ngày nay không phải là kết quả của các biến cố ngay trước mắt. Khi tôi nói “ngay trước mắt” (“immediate”), tức là tôi đề cập đến mọi diễn biến xảy ra trong kỷ nguyên Cơ Đốc giáo. Tôi muốn bạn cố gắng xem cuộc khủng hoảng hiện tại như là đang được tạo ra hay mở đầu bằng các biến cố có cội nguồn cổ xưa đến nỗi các sử gia chính thống hiện đại không có ghi nhận gì về chúng cả.

Chỉ có hai quan điểm sẽ thực sự được dùng để làm sáng tỏ những gì đang xảy ra vào lúc này.

Trước tiên, cần nhận thức rằng lịch sử học thuật hiện đại chỉ là một trang trong di sản lịch sử rộng lớn và chính các biến cố mở đầu lịch sử đó mà chúng ta đang tìm tòi và nó đang thể hiện ra như là các kết quả trong sự sống hành tinh, vào lúc này lại tùy thuộc vào một kỷ nguyên xa xăm đến nỗi không một sử gia hiện đại nào nhận ra được các giai đoạn của nó. Chi tiết liên quan đến giai đoạn cổ xưa này phải được tìm kiếm trong nhiều Thánh Kinh trên thế giới, trong các di tích lịch sử cổ xưa, trong khoa học về các biểu tượng, trong các thần thoại của nhân loại và trong các truyền thuyết được thừa kế và truyền tụng.

Hai là, việc nghiên cứu tiểu vũ trụ, tức con người, sẽ được tìm thấy là nắm giữ, hầu như luôn luôn, bí quyết cho việc ngiên cứu các sự việc của con người nói chung. Cũng như những người tìm đạo và các đệ tử, vào lúc này đang được trắc nghiệm, thử thách và lệ thuộc vào việc đưa tới các xung đột không thể giải thích được và các thay đổi quyết liệt trong các kiếp sống của họ, thế nên sự việc cũng đúng với mọi người tìm đạo trên thế giới, tức Nhân Loại.

Một điều khác có lẽ nên được đưa thêm vào hai lý do ở trên sẽ có ý nghĩa và hàm ý đối với các nhà huyền bí học và đối với tất cả những ai, bằng bất cứ cách nào, hiểu được giáo huấn mà tôi đã cố gắng đưa ra cho bạn trong các sách của tôi về ba trung tâm trên thế giới – Nhân Loại, Thánh Đoàn và Shamballa. Cuộc khủng hoảng trên thế giới này có liên quan đến sự tiếp cận hay là mối liên hệ của Thánh Đoàn đối với Nhân Loại. Trung tâm lực tinh thần vĩ đại đó, tức là Giới Nhân Loại, giờ đây đã đạt được đến một mức độ mạnh mẽ và có hoạt động rung động cao siêu đến nỗi nó bị lay chuyển đến cùng cực; mọi mức độ tiến hóa của nó và các nhóm đang đáp ứng với sự kích thích, phát sinh trong chính trung tâm và cũng bị kích thích bởi các Thần Lực tỏa ra từ trung tâm Thánh Đoàn và từ Shamballa.

Điều này đẩy nhanh một bước ngoặt (crisis) vốn không xảy ra giống hệt như trong lịch sử nhân loại, mà chỉ là một hình ảnh lờ mờ như trong bước ngoặt chợt xảy ra trong giới động vật và kết quả là tạo thành một giới mới trong thiên nhiên – giới nhân loại. Như trước kia tôi có nói với bạn, bước ngoặt hiện nay trên thế giới, nếu được đối phó một cách chính xác và được kiềm chế đúng lúc sẽ đưa đến kết quả là cho giới thứ năm hay giới tinh thần xuất hiện trên cõi trần.

Như bạn biết, điều này sẽ được tạo ra bằng sự nhất quán (at – one–ing) của hai trung tâm – trung tâm nhân loại và Thánh Đoàn. Một trong các tổng hợp chủ yếu của hành tinh đang xảy ra, hay là có lẽ tôi nên nói, có thể xảy ra. (Tôi đang diễn đạt điều này một cách cẩn thận và muốn kêu gọi bạn chú ý đến cách diễn đạt của tôi).

Có thể là hữu ích nếu tôi bàn rộng thêm về bốn giai đoạn có các nguyên nhân ban đầu nói đến ở trên. Khi làm thế thì tôi có thể mang lại cho bạn một số ý tưởng về mục tiêu ẩn bên dưới của mọi diễn biến hiện nay và một số hiểu biết về các tình trạng sắp xếp trước đang ẩn sau bóng đêm của thời gian. Ước chi tôi có thể làm điều này một cách thích đáng và ước chi bạn có thể đọc và nghiên cứu một cách đầy hiểu biết và bằng thể trí mở rộng, thì một số nỗi hoang mang tự nhiên của bạn có thể tan biến, và bấy giờ bạn có thể giúp đỡ những kẻ khác sống một cách yên tĩnh qua cuộc khủng hoảng này và duy trì được một thái độ kiên nhẫn, thiện chí, quân bình và từ ái. Do đó, chúng ta hãy xem xét bốn điểm này, bởi vì, khi làm như thế, chúng ta sẽ bao gồm lãnh vực một cách đầy đủ – tôi tin thế – để ít nhất mang lại một ít ánh sáng cho bạn. Sau này, tôi sẽ cố gắng giải thích ý nghĩa của Đại Khấn Nguyện và mang lại cho bạn một số ý tưởng về bản chất của các Thần Lực được gợi ra và ý nghĩa huyền bí mà các từ ngữ này (mà bạn rất thường sử dụng) có ý định truyền đạt.

 

Nguyên nhân cuộc khủng hoảng hiện nay

(The Cause of the Present Crisis)

Bạn cần biết rõ rằng Định Luật Luân Hồi vĩ đại là định luật chủ yếu và đang chi phối trong tất cả các tiến trình biểu lộ. Nó cai quản sự biểu lộ bên ngoài của một Thái Dương Thượng Đế hay của một con người và mục tiêu của tiến trình tái hiện thường xuyên này là để mang lại một hình hài ngày càng hoàn thiện hầu mở rộng việc phụng sự của linh hồn. Lần đầu tiên kể từ lúc bắt đầu, gia đình nhân loại ở vào một vị thế có thể ghi nhận cho chính mình các tiến trình tái sinh của một nền văn minh dưới hình thức biểu hiện của việc trau giồi tâm linh ở một trình độ đặc biệt trong cơ tiến hóa. Đó là tầm mức của bước ngoặt này khi nó chiếm vị trí của nó trong ý thức con người. Nhiều bước ngoặt nhỏ đưa tới các thử nghiệm trong chủng tộc và quốc gia, bộ tộc đặc thù để phục hồi lại hình hài đã qua đi và đã được một vài nhóm trong một quốc gia ghi nhận hay do chính quốc gia ghi nhận (nếu tiến hóa đủ). Việc ghi nhận ở tầm mức quốc gia như thế xảy ra lần đầu tiên có liên quan với Cuộc Cách Mạng Pháp (the French Revolution). Các ghi nhận về chủ đích tiến hóa như thế đã xảy ra ngày càng rõ rệt và sự cảm thông ngày càng nhiều trong hai trăm năm qua. Thực ra, các bước ngoặt như thế xảy ra ở mọi quốc gia trong các thời hiện đại và đã được nhận biết ở một mức độ nào đó và các sử gia đã bàn rộng cũng như các triết gia đã suy luận về chúng nữa. Nhưng cuộc khủng hoảng ngày nay thì rộng lớn hơn nhiều, bao gồm đa số các quốc gia trong cả hai bán cầu. Vào lúc này không một quốc gia nào mà không bị ảnh hưởng và các kết quả đang và phải được ghi nhận ở một số khía cạnh sinh hoạt quốc gia.

Nhờ bởi mối liên hệ hỗ tương xác thực giữa các quốc gia ở khắp nơi và nhờ bởi sự liên lạc với nhau nhanh chóng, cuộc khủng hoảng hiện nay là cuộc khủng hoảng quốc tế chủ yếu đầu tiên trong các sự việc của con người và bao gồm một thời kỳ hai mươi tám năm (từ 1914 đến 1942). Đây là các con số lý thú vì 28 là 4 x 7, đó là các năm của một chu kỳ phàm ngã đầy đủ. Từ các điều nói trên tôi không muốn bạn suy đoán rằng giai đoạn tranh đấu và xung khắc dữ dội tất nhiên phải được kéo dài cho đến năm 1942. Không phải trường hợp đó. Việc chấm dứt xung đột sớm hay là việc kéo dài vô hạn sự xung 113 đột nằm trong cách giữ gìn của chính nhân loại; con người phải ngày càng định đoạt vận mệnh riêng của mình, khi thoát ra khỏi thời kỳ thanh niên, đi vào thời kỳ trưởng thành, có trách nhiệm và công lao. Tuy nhiên thời kỳ 28 năm này vô cùng quan trọng và ba năm kế tiếp phải phụ thuộc vào đó.

Lần nữa, tôi xin nói với bạn rằng ngay cả chính Thánh Đoàn, có mọi hiểu biết, có tầm nhìn xa trông rộng và với mọi phương tiện của mình, cũng không thể tạo được áp lực (coerce) và không thể tiên liệu (forecast) được những gì mà nhân loại sẽ làm. Thánh Đoàn có thể và chắc chắn là thúc đẩy hành động đúng đắn; Thánh Đoàn này có thể và chắc chắn là cho thấy khả năng và trách nhiệm. Thánh Đoàn này có thể và chắc chắn là gởi các huấn sư, các môn đệ của mình để dạy dỗ và dắt dẫn nhân loại; nhưng không hề và không ở vị trí điều khiển hay kiểm soát. Thánh Đoàn có thể và chắc chắn đem cái thiện ra khỏi cái ác, làm sáng tỏ tình thế và đưa ra cách giải quyết vấn đề, nhưng Thánh Đoàn không thể đi xa hơn thế được. Nếu Thánh Đoàn nắm lấy quyền kiềm chế, thì một nhân loại người máy (race of automatons) sẽ được hình thành chứ không phải một nhân loại có trách nhiệm, tự điều khiển và có hoài bảo. Chắc chắn là bạn phải hiểu rõ điều này và có thể dùng nó để trả lời câu hỏi quan trọng nhất trong trí của các đạo sinh huyền linh học thiếu suy tư ngày nay : Tại sao Thánh Đoàn không thể ngăn chận được tai họa này? Chắc chắn là các Chân Sư Minh Triết, với kiến thức và cách điều khiển các thần lực của các Ngài có thể can dự vào, nhưng khi làm như thế là các Ngài đã vi phạm định luật huyền linh và cản trở (hindered) sự phát triển đích thực của nhân loại. Các Chân Sư sẽ không bao giờ làm điều này. Con người phải học cách đứng và hành động bằng mọi giá. Thay vì làm tất cả những gì có thể chấp nhận được, hiện giờ, các Ngài đứng bên cạnh nhân loại đang đau khổ và hoang mang và – với lòng bác ái và tình thương vô cùng sâu xa – các Ngài sẽ giúp nhân loại sửa chữa lỗi lầm mà họ đã gây ra, để học những bài học cần thiết và để vượt qua cuộc khủng hoảng này (chúng  đã xảy ra thật bất ngờ) nhờ đó trở nên phong phú và trở nên thanh khiết trong lửa của nghịch cảnh. Đây không phải là các điều vô vị mà là các chân lý vĩnh cửu.

Bước ngoặt trên thế giới này với mọi khủng khiếp và đau khổ của nó, sau cùng, là kết quả của các diễn trình tiến hóa đạt được thành công. Chúng ta sẵn sàng thừa nhận rằng khi chu kỳ sống của con người trôi qua và con người đã học được các bài học mà kinh nghiệm của bất cứ kiếp sống đặc biệt nào được dự trù dạy ra, lúc đó thế xác của con người và các trạng thái hình hài bên trong (tạo thành toàn thể biểu lộ phàm ngã của y) sẽ bắt đầu hư hỏng; các tác nhân hủy diệt trong chính hình hài sẽ trở nên linh hoạt và sau rốt cái chết sẽ xảy ra, đưa đến kết quả là giải thoát cho sự sống bên trong ngõ hầu một hình hài mới và tốt đẹp hơn có thể được tạo ra. Lẽ tất nhiên, chúng ta chấp nhận điều này hoặc là một cách mù mờ, hoặc một cách sáng suốt, xem nó như là một tiến trình tự nhiên và không thể tránh khỏi, nhưng bình thường  và đoán trước được. Tuy nhiên, chúng ta thường hay quên rằng những gì đúng đối với cá nhân thì cũng đúng cho nhân loại. Các chu kỳ văn minh như là chu kỳ mà chúng ta gọi là nền văn minh hiện đại của chúng ta thì tương tự với sự luân hồi riêng biệt, đặc thù của nhân loại với sự khởi đầu của nó, sự tiến bộ và sự tăng trưởng của nó, sự trưởng thành hữu ích và sự hư hoại tiếp theo sau của nó và sau đó cái chết hay là việc rời khỏi hình hài sắc tướng.

Các hình hài bao giờ cũng dễ dàng bị tấn công. Cuộc sống nội tâm mạnh mẽ và sự đoạn tuyệt trong tâm linh là hai biện pháp an toàn. Nơi nào hình hài mạnh mẽ hơn là sự sống, thì sự nguy hiểm sắp xảy ra; nơi nào có sự ràng buộc vào khía cạnh vật chất hay cơ cấu vật chất, thì nơi đó các giá trị tinh thần không còn nữa.

Ngày nay, chúng ta đang nhìn thấy cái chết của một nền văn minh hay chu kỳ luân hồi (cycle of incarnation) của nhân loại. Trong mọi lãnh vực biểu lộ của con người, đã có sẵn sự co cụm (crystallisation) và hư hoại. Các giáo điều lỗi thời và việc kiềm giữ của thần học và các giáo hội chính thống đã không còn đủ sức để duy trì sự trung thành đối với sự sống tâm linh mạnh mẽ bên trong nữa; nhân loại đang có biến đổi sâu xa về tâm linh và có thiên hướng tự nhiên về tôn giáo nhưng ngày nay cần có một hình thức mới để nhờ đó thể hiện các chân lý cổ xưa. Các phe phái chính trị cũ xem ra không còn thích hợp nữa và các ý thức hệ mới mẻ làm chứng cho sức mạnh của sự sống hiện đang tìm cách biểu hiện thích hợp hơn; các hệ thống giáo dục dùng cho mục tiêu của chúng, được nhanh chóng nhận ra là không thích hợp để đáp ứng  với sự sống có đòi hỏi cao của nhân loại; khắp nơi đều có tiếng kêu gào thay đổi và đòi có các hình thức mới mẻ trong sinh hoạt tôn giáo, chính trị, giáo dục và kinh tế của nhân loại ngõ hầu có được cách biểu hiện tâm linh tốt đẹp và tự do hơn. Sự thay đổi như thế đang xảy ra một cách nhanh chóng và được một số người xem như là cái chết – khủng khiếp và cần phải tránh nếu có thể. Thực ra, cái chết chỉ đem lại lợi ích và cần thiết. Chính nhận thức này về sự thoáng qua của một nền văn minh sẽ làm phát ra tiếng kêu từng đợt và báo trước, “Đây là cái chết của nền văn minh; lẽ ra không phải xảy ra”; “Đây là kết thúc của một trật tự và là trật tự xưa cũ phải được cứu vãn”; “Đây là sự hủy diệt các giá trị cũ và đáng yêu, và việc đó đừng nên xảy ra”.

Cái mà nhân loại đang mang lại sự thay đổi cần thiết này bằng những cách gây đau khổ, tàn bạo, không cần thiết, thực ra là đúng, giống như điều cũng đúng ở ngày nay đó là, do bởi cách suy tư sai lầm, các thói quen thiếu sáng suốt của họ về cách sống ở cõi trần và các thái độ tình cảm ngoài ý muốn, nhất định con người sẽ rơi vào tình trạng sụp đổ về mặt thể chất và cuối cùng đi đến tử vong. Tuy nhiên đối với sự tiến bộ cho linh hồn của cá nhân và linh hồn của nhân loại, thì sự chết là tất yếu, tốt lành và cần thiết; cũng là điều thực tế mà tất cả chúng ta đều quen thuộc nhất trong kinh nghiệm riêng của chúng ta và khi xem xét điều đó nơi người khác. Nhưng chúng ta cần nhớ rằng cái chết tệ hại nhất trong mọi cái chết (xét về mặt nhân loại) sẽ xảy ra nếu hình thức văn minh hay là hình hài xác thân trở nên tĩnh tại và không thay đổi; nếu trật tự cũ không bao giờ thay đổi và các giá trị cũ không bao giờ được chuyển đổi thành các giá trị cao siêu và tốt đẹp hơn, thì thật sự sẽ là tai họa.

Chúng ta cũng cần nhớ rằng các sức mạnh hủy diệt hay sự chết đều có hai mặt: một là sự sống xuất hiện và phát triển nhanh chóng với sự đòi hỏi cơ hội biểu hiện nhiều hơn và kinh nghiệm đầy đủ hơn, và hoài bảo tâm  linh đối với sự thay đổi và tiến bộ; và hai là các mãnh lực phản ứng và các thái độ dè dặt vốn gắn liền với cái biết rõ và cái quen thuộc, đồng thời vốn không ưa cái mới mẻ, chưa thử nghiệm và  chưa biết rõ. Cả hai điều này sẽ tạo ra sự chuyển tiếp lớn lao và thiêng liêng từ quá khứ đi vào tương lai, và từ cái cổ xưa trở thành cái mới mẻ, từ kinh nghiệm trở thành kết quả và kế đó thành kinh nghiệm trở lại. Các thực tại đều vĩnh cửu bất tử; các hình hài đều phù du và tạm bợ; linh hồn vốn bền bĩ và bất diệt; hình hài phải thay đổi và chịu số phận tử vong. Các diễn trình tiến hóa đang có trong quá khứ và sẽ có trong tương lai, tỏ ra thành công trong việc cho ra đời các hình hài, trưởng thành và chết đi.

Nhưng (và đây là điểm lý thú và có ý nghĩa) nhân loại lần đầu tiên biết được tiến trình. Lần đầu tiên nhân loại đã chọn một cách sáng suốt, tuân theo những gì đang diễn ra và liên kết nó với kinh nghiệm và với môi trường chung quanh. Điều này tự nó báo hiệu một giai đoạn phát triển đích thực và được nhiều người ưa thích. Khả năng lý luận, phân tích và trình bày các quan điểm khác nhau đang diễn ra trong mọi quốc gia ở mức độ rộng lớn đối với kết quả khác nhau, dựa vào các dị biệt về tính tình, về tập quán, về sự phát triển và về việc dạy dỗ.

Giai đoạn diệt vong và ra đời (vì cả hai đều diễn tiến cùng lúc) có thể được nhà huyền bí học hiểu được dễ dàng khi nghiên cứu trận thế chiến vào hai giai đoạn riêng biệt: 1914 đến 1918 và 1939 đến 1942(1). Giai đoạn đầu (nếu bạn có thể thấy được tình hình thực sự của nó) rõ là giai đoạn diệt vong; giai đoạn hai, tức là giai đoạn hiện tại của chúng ta, theo nghĩa đen là giai đoạn sinh ra – các khủng hoảng của trật tự mới và của nền văn minh mới, nhờ đó ý thức về sự sống của nhân loại có thể tự biểu hiện. Mẹ chết đi để cho con có thể sống sót; hình hài được hy sinh cho sự sống. Nhưng ngày nay, khía cạnh hình hài, tức là Mẹ hay khía cạnh vật chất đang hấp hối một cách thấy rõ, và cũng thấy rõ đứa trẻ, tức là nền văn minh ấu trĩ, đang xuất hiện. Đây là điều mới mẻ và tất cả chúng ta đang tham dự vào việc này. Đó là cái chết của phàm ngã nhân loại và việc xuất hiện của linh hồn.

(1) Chú ý: 1942 chứ không phải 1945 (ND)

Sự hấp hối như thế bao giờ cũng là tiến trình đầy đau đớn. Sự đau đớn luôn luôn là tác nhân thanh lọc, được các Vận Mệnh Tinh Quân (Lords of Destiny) sử dụng để mang lại sự giải thoát. Nỗi đau chồng chất của cuộc  chiến tranh hiện tại và nỗi đau còn truyền lại của giai đoạn trước kia (đã bắt đầu vào năm 1914) đang mang lại một ý thức thay đổi và hữu ích cho thế giới. Vị Chúa Tể của Đau Khổ từ trên ngai của Ngài bước xuống và đang đi lên các con đường  trần gian ngày nay, đem lại sự phiền muộn, thống khổ và khủng khiếp đối với những ai không thể lý giải được các mục tiêu của Ngài, nhưng cũng mang lại sự tái kích thích cho bản năng tự tồn mà – ở trạng thái cao nhất của nó – là bản năng đưa đến bất tử; nó có khuynh hướng tập trung sự chú tâm của nhân loại vào khía cạnh sự sống chớ không vào khía cạnh hình hài. Nói một cách tượng trưng và theo quan điểm ý nghĩa bên trong của chúng, các danh xưng của các Nghiệp Quả Tinh Quân hàm ý là Mối Liên Hệ, Sự Giác Ngộ, Sự Đau Khổ và Sự Trở Lại. Hãy suy gẫm về điều này. Vào lúc này, tất cả đềulinh hoạt một cách đặc biệt và trong hoạt động của chúng, có ẩn mối kỳ vọng của nhân loại.

 

Các Biến Cố thuộc Nghiệp Quả xưa

(Ancient Karmic Events)

Tôi không có ý định giải thích hay thảo luận vấn đề nghiệp quả. Tuy nhiên, về căn bản, chủ đề huyền linh ngoại môn này, tức Luật Nhân Quả, gợi lên một nhận thức tổng quát khi gọi bằng danh xưng này. Khi được gọi là Luật Nghiệp Quả (Law of Karma), tức khắc nó được xem như là có tính huyền bí, thuộc Đông phương và mới mẻ. Đôi khi được gọi là Luật Báo Phục (Law of Retribution), một hàm ý hoàn toàn sai lạc được gắn vào luật đó. Ngày nay, nghiệp quả của nhân loại đang giáng xuống nhân loại. Tuy nhiên,  tôi xin nhắc bạn rằng việc luôn luôn nhấn mạnh vào các khía cạnh xấu của nghiệp quả, đã gợi nên một ấn tượng sai lầm và chối bỏ sự hiểu biết đầy đủ về chân lý. Có nhiều nghiệp quả tốt cũng như nhiều nghiệp quả xấu; ngay cả trong tình hình thế giới hiện nay, vẫn có nghiệp quả tốt bắt nguồn từ linh hồn nhân loại, cân bằng với nghiệp xấu đến từ khía cạnh vật chất và luôn luôn được nhấn mạnh quá mức. Chính nhịp điệu của vật chất trái ngược với nhịp điệu của linh hồn, và các nhịp điệu này tạo ra các nguyên nhân ban đầu của cuộc xung đột hiện nay, cả trong các kiếp sống cá biệt, lẫn trong tình hình thế giới nói chung. Khi điều này được hiểu đúng thì bức tranh đích thực mới có thể hiện ra trong tâm và trí bạn một cách rõ ràng hơn nhiều.

Với cố gắng để làm sáng tỏ hình ảnh, tôi sẽ phải xem qua nhiều chi tiết chủ yếu; tôi cũng sẽ bắt buộc phải luôn luôn chọn lập trường uyển chuyển để đưa ra các phát biểu vốn không thể được phối kiểm và vốn chỉ có các luận cứ duy nhất của chúng (đối với nhà tư tưởng bậc trung) khi suy luận từ các hiệu quả được tạo ra bởi các nguyên nhân mà kẻ chưa giác ngộ về mặt huyền linh không thể thấy được. Sau này con người sẽ phát triển loại thái độ trí tuệ xem nguyên nhân mới là quan trọng hơn hiệu quả; bấy giờ y sẽ học cách xem xét cẩn thận các giai đoạn đầu tiên được chọn khi tiến hành bất cứ đường lối hành động nào, nghiền ngẫm để rút ra các hiệu  quả có thể có, trước khi ràng buộc chính mình vào bất cứ tín điều đặc biệt nào. Chỉ có qua đau khổ, sai lầm và sau đó là việc trả giá mà giai đoạn lợi ích này mới được đạt đến.

Ngày nay, tất cả những gì đang xảy ra, thứ nhất, do nhị nguyên tính chủ yếu của con người; thứ nhì, bởi một vài đường lối chia rẽ chính mà thuyết nhị nguyên bản thể này mang lại trong giai đoạn đầu của lịch sử nhân loại, và thứ ba là do khuynh hướng ngày càng tăng đưa đến sự tổng hợp mà luồng thần lực lưu nhập từ Shamballa đang tạo ra vào lúc này. Đây là phát biểu đơn giản nhất mà tôi thấy có thể đưa ra liên quan đến vấn đề phức tạp này. Bằng các nét khái quát rộng lớn, tôi gói ghém quá khứ, nêu ra các hiệu quả mà hiện giờ đang được trải qua trong hiện tại và báo trước tương lai.

Chính việc bước vào luân hồi của con người có ngã thức thiên về tâm linh mới là nguyên nhân đưa đến các xung đột hiện nay. Phải chăng các con trai của Thượng Đế không “đến với các con gái của loài người” (đó là cách diễn tả tượng trưng theo Thánh Kinh về mối liên hệ to tát giữa tinh thần với vật chất đã được thiết lập trong giới nhân loại), phải chăng các thực thể thiên về tâm linh vốn là chính nhân loại không tự mình khoác lấy các hình hài vật chất, và phải chăng yếu tố tâm linh tích cực không tự ràng buộc với trạng thái vật chất tiêu cực, thì cuộc xung đột trên thế gian hiện nay sẽ không xảy ra. Nhưng cơ tiến hóa thiêng liêng đã dựa vào sự phát sinh mối liên hệ giũa con người hữu thức tâm linh với khía cạnh sắc tướng, và như thế Định Luật Nhị Nguyên Tính vĩ đại đã tác động đưa tới sự “sa ngã của thiên thần” (“fall of  the angels”) khi các vị này giáng xuống từ trạng thái hiện tồn tự do và vô nhiễm, ngõ hầu phát triển được sự hiểu biết thiêng liêng đầy đủ trên cõi trần, qua việc lâm phàm trong  vật chất và việc sử dụng nguyên khí trí tuệ. Đây là thiên cơ, phát xuất từ Thiên trí (Mind of God) bắt đầu hoạt động và mở ra sự tiến bộ tiệm tiến bằng tác động của Ý Chí của Ngài. Vào lúc khởi đầu của nó, xảy ra “cuộc chiến tranh có cội nguồn từ trên trời,“ khi các con của Thượng Đế đáp ứng với sự thôi thúc thiêng liêng để thu thập kinh nghiệm, để phụng sự và để hy sinh, tự tách mình ra khỏi các con của Thượng Đế, tức những kẻ không có đáp ứng chút nào với linh hứng như thế, mà là những kẻ chọn ở lại trong trạng thái hiện tồn cao siêu ban đầu. Đối với chân lý này, chính Đức Christ có minh chứng trong câu chuyện Đứa Con Đi Hoang và mối liên hệ của đứa con này với người anh của y tức là kẻ không rời khỏi nhà của Cha. Hiển nhiên là không phải Chúa Cha thừa nhận sự việc qua dụ ngôn này; khi nghiên cứu kỹ câu chuyện này và dùng trực giác để tìm hiểu các hàm ý của nó, có thể một ngày nào đó người ta tìm được câu trả lời cho “Tội do kinh nghiệm” (“sin of experience”) như người ta đã gọi, và việc hiểu được hai định luật chủ yếu đang chi phối tiến trình: Định Luật Tiến Hóa và Định Luật Tái Sinh. Ở đây có ẩn nguyên nhân khởi đầu của những gì đang xảy ra ngày nay.

Nguyên nhân thứ hai từ từ lộ ra khỏi nguyên nhân thứ nhất. Vật chất và tinh thần, được tập trung trong gia đình nhân loại và biểu hiện các tính chất căn bản của chúng và bản chất chủ yếu của chúng, mãi mãi xung đột nhau. Trong các giai đoạn đầu và trong chu kỳ dài của thời Lemuria, nhân loại ấu trĩ đã phát triển ổn định và tuy thế mặc dù có các đường phân cách họ cũng không nhận ra. Các tia trí tuệ tiềm tàng chỉ được dùng để mang lại sự giác ngộ tương đối cho năm giác quan và việc áp dụng thuần túy vật chất của chúng. Sự sống vật chất rất mạnh mẽ; sự sống do suy diễn (deductive) hay tự ghi nhận (self registering) thực ra không hề có (nil). Sự sống của nhân loại bấy giờ được tập trung trong thể xác, như vậy làm mạnh thêm và làm kích thích phàm ngã, đồng thời phát triển cơ cấu xác thân và các cơ quan khác nhau bên trong nhờ phát triển năm giác quan, thoạt tiên, con người trở nên một động vật ích kỷ, và tuy thế đôi khi lại là một động vật thích chống chọi với các khuynh hướng mơ hồ hướng về một điều gì được cảm nhận một cách lờ mờ như là tốt đẹp và với các thời điểm có ham muốn cao độ vốn không phải là đạo tâm và thúc đẩy tới tiến bộ, theo như chúng ta biết, mà là các hình thức phôi thai của chúng.

Con người hiện đại không thể thấy hay hiểu được một trạng thái ý thức như thế, vì y đã bỏ nó lại quá xa ở sau. Tiêu điểm của sinh lực (life force) cũng nằm ở vùng tuyến thượng thận, tạo ra sự can đảm liều lĩnh (animal courage) và kháng lại với sự chấn động. Như lệ thường, nhị nguyên luận về bản thể chủ yếu của con người vẫn hiện hữu và các đường phân cách dần dần xuất hiện. Một cách từ từ nhưng chắc chắn, các linh hồn tiên phong (một số rất nhỏ) chuyển ý thức của họ dần dần lên cao hơn vào bí huyệt nhật tùng và việc nhận thức về yếu tố ham muốn đối với những gì thuộc vật chất và một năng lực đối với phản ứng tình cảm bắt đầu phát triển. Từ trước đến nay, trong thời Lemuria, dục vọng và bản năng đều giống nhau. Hãy suy gẫm về điều này, thật là điều lý thú vì bởi nó liên quan đến một trạng thái ý thức mà con người hiện đại thực sự không biết gì hết. Nhưng vào thời kỳ Atlantis, ranh giới giữa những gì tạo thành cuộc sống thuần túy vật chất với những gì – mặc dù vẫn còn là vật chất – có thể là mục tiêu nỗ lực và như vậy có thể đạt được, đã bắt đầu kiềm chế bản chất động vật thuần túy; con người bắt đầu ham lợi lộc và tự bao bọc mình với những gì mà y muốn. Đường ranh phân chia giữa con thú có bản năng với con người ham lợi lộc đã bắt đầu được phân định rõ rệt hơn.

Dần dần yếu tố trí tuệ được khai mở trong số những người tiên phong này giống như yếu tố trực giác ngày nay đang khai mở trong số những người thuộc mẫu trí tuệ; con người bắt đầu có được một hình thức nhận thức bằng trí tuệ nào đó và mang lại cho thể trí bé nhỏ những gì mà họ đã có cho tiến trình làm tăng tài sản vật chất của họ. Giai đoạn văn minh (về căn bản đó là việc nhận thức về mối liên hệ tập thể) đã bắt đầu. Thời kỳ sống ở thành thị đã thay thế thời kỳ sống bằng trồng trọt và thuần túy du mục. Con người bắt  đầu  quần tụ lại để có tiện nghi vật chất nhiều hơn và có sự che chở hữu hiệu hơn, các tiến trình tập trung hài hòa và bành trướng khắp thế giới đã bắt đầu. Các chu kỳ này tương tự với việc hít vào và thở ra của bộ máy xác thân của con người, tản mác hay phân tán, và sự sống cộng đồng (community life) hay là biểu hiện của bản năng hợp đoàn (herd instinct) trên vòng xoáy ốc cao hoặc thấp của cuộc sống. Vài trăm năm qua đã chứng kiến một vấn đề chủ yếu xuất phát trong khuynh hướng hiện nay của nhân loại muốn cùng nhau tụ tập trong các thành phố lớn và muốn tụ hợp trong các đoàn thể rộng lớn, rời miền thôn dã không còn người dân và tạo ra vấn đề nghiêm trọng do thiếu ăn, do sức khỏe và cũng do tội ác. Ngay trước mắt chúng ta, nhịp điệu này ngày nay đang thay đổi và vấn đề nghiêm trọng đang được giải quyết; các thành phố đang được giãn dân, và – khi những người nam và nữ, vì lý do này hay lý do khác được đưa về miền quê – thì các tinh quân phụ trách tiến hóa bắt buộc phải làm gián đoạn nhịp điệu tập trung và thay thế vào đó là nhịp điệu phân tán. Điều này sẽ hoàn thành được nhiều điều cho nhân loại và sẽ làm dễ dàng cho việc phát triển sự tổng hợp bên trong vốn sẽ làm phong phú rất nhiều cho nhân loại và đem lại các giá trị mới cho cuộc sống.

Đường phân chia giữa bản chất con vật vốn thiên về bản năng với một hình thức ham muốn nào đó  (đạo tâm phôi thai) tăng lên dẫn đầu vào thời Atlantis và nền văn minh có sớm này đã bắt đầu biểu lộ âm điệu riêng (note) của nó và  đặt ra các tiêu chuẩn mới về tiện nghi vật chất và có sự kiềm chế ích kỷ ở quy mô rộng lớn ngày càng tăng khi cuộc sống thành thị đã phát triển. Có lẽ chúng ta khó mà hình dung ra một thế giới đông đúc lúc bấy giờ như thế giới hiện nay nhưng sự thật là như thế. Bản chất động vật, vốn đang chiếm ưu thế, khuynh hướng tiến về phía liên hệ phái tính và tạo ra các gia đình lớn, giống như khuynh hướng đó ở các đẳng cấp thấp trong các khu vực văn minh của chúng ta ngày nay, vì giới nông dân và cư dân ở các khu ổ chuột (slum dwellers) sinh đẻ nhiều hơn là các giới trí thức. Trong các thời xa xăm này, chỉ những người thật sự có được mức độ thông tuệ nào đó mới trở thành đệ tử và đệ tử điểm đạo; họ dẫn dắt và bảo vệ nhân loại còn ấu trĩ, giống như các bậc cha mẹ hiện nay dẫn dắt và bảo vệ con cái mình, và giống như nhà nước đảm nhận trách nhiệm đem lại phúc lợi cho quốc gia. Vào các thời này, Thánh Đoàn hiện hữu trên cõi trần với cương vị là các Thánh vương (priest–king) và các Ngài hành động như là các tụ điểm có mãnh lực thu hút, lôi cuốn về chính các Ngài những kẻ mà các tiêu chuẩn trừu tượng hơn nơi họ đang từ từ đảm nhận việc kiềm chế tuy chưa rõ rệt, như vậy khiến cho các đường phân cách giữa chủ nghĩa duy vật và tính chất tâm linh trở nên rõ rệt và dứt khoát hơn.

Chúng ta phải nhớ rằng tính chất tâm linh (spirituality) vào thời đó có đặc điểm rất khác với những gì hiện đang có cùng tên gọi đó. Nó có tính chất của một khát vọng hướng về một kiếp sau được cảm nhận một cách mơ hồ (sensed hereafter), mong có một cái đẹp vừa ý, mong có sự hoàn hảo về tình cảm. Như chúng ta biết về tư tưởng, không có một tư tưởng nào trong quan điểm này, mà chỉ có việc vươn tới dựa theo một cảm nhận mơ hồ về cái không thể đạt được và đối với những gì được ưa thích. Điều này được Thánh Đoàn vun trồng trong con người xuyên qua cái quà tặng với nhiều phát minh khác nhau và bằng việc sử dụng quần chúng theo bản năng để tạo ra các thành phố to tát, đẹp đẽ và các cấu trúc kỳ diệu, mà dấu vết còn lại của nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Điều này được thực hiện dưới sự hướng dẫn thành thạo của các đệ tử điểm đạo và các cao đồ. Các vị này dùng sự hiểu biết của các Ngài về bản chất của vật chất và năng lượng để tạo ra nhiều điều mà ngày nay con người đang cố gắng mò mẫm để khám phá ra và biến thành hiện thực. Tất cả những gì mà các phương pháp hiện nay của nền văn minh có thể làm được và còn nhiều điều hơn thế nữa mà ngày nay đang xuất hiện dưới tên gọi là khám phá khoa học đều được biết đến vào thời Atlantis cổ, nhưng chúng không được chính con người tìm ra mà là được tặng cho con người như là món quà biếu không, cũng như ngày nay con người đưa cho đứa trẻ những vật đẹp đẽ và kỳ diệu mà đứa trẻ sử dụng và lấy làm ưa thích, nhưng lại không hề hiểu biết chút  nào.  Những thành phố lớn và đẹp đẽ, đầy các đền đài và các tòa nhà vĩ đại (mà các di tích của người Chaldea và người Babylone là các tàn tích suy đồi, và những tòa nhà chọc trời hiện nay chỉ là trẻ con) được tìm thấy ở khắp nơi. Hầu hết kiến thức khoa học hiện đại đều được các vị thánh vương thông hiểu,  và dưới con mắt của quần chúng, kiến thức khoa học này tạo thành một hình thức pháp thuật huyền diệu. Điều kiện vệ sinh, ăn ở sạch sẽ, phương tiện chuyên chở và các máy bay (air machines) được phát triển và thuộc loại rất cao cấp, tuy nhiên các điều này không phải là kết quả thành đạt của con người mà là các món quà của Thánh Đoàn được phát triển và kiến tạo dưới sự hướng dẫn sáng suốt. Cần có sự quản lý không khí và nước bởi vì những vị hướng dẫn của nhân loại biết làm cách nào để kiểm soát và kiềm chế các sức mạnh của thiên nhiên và của các hành tố (elements), nhưng không một sức mạnh nào thuộc loại đó được nhân loại thông hiểu hay cố gắng để biết cả. Trí óc con người vốn chưa phát triển đầy đủ và không thích hợp cho một nhiệm vụ như thế, không hơn trí của một đưa trẻ bao nhiêu.

Sự phân cách giữa  hai nhóm (một nhóm tượng trưng cho các mãnh lực của chủ nghĩa vật chất, còn nhóm kia tượng trưng cho mãnh lực của bên chính đạo) ngày càng lớn rộng thêm cho đến cuối thời Atlantis thì quá rộng, và các đường ranh phân chia giữa hai trường phái sự sống và tư tưởng rõ rệt đến nỗi một cuộc khủng hoảng đổ xô đến trong thế giới văn minh lúc bấy giờ mà cuộc xung đột hiện tại là hậu quả tất nhiên của nó. Chúng ta cũng nên hy vọng rằng những gì tạo ra một đỉnh điểm (climax) sẽ không bao giờ xảy ra lần nữa. Lúc ấy xảy ra cuộc đại chiến giữa các Tinh Quân Sắc Tướng (Lords of Form) với các Tinh Quân Hiện Tồn (Lords of Being) hay là giữa các Mãnh Lực Vật Chất (Forces of Matter) với Đại Huyền Môn (Great White Lodge). Việc nghiên cứu kỹ quyển hai của Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ giúp cho các đạo sinh hiểu rõ thêm, nếu họ đặc biệt nghiên cứu các trang 275 – 466. Đối với sự hiểu biết của chúng ta, dữ liệu này có thể dường như mơ hồ tối tăm, nhưng theo thời gian, vấn đề sẽ trở nên rõ ràng hơn. Các Mãnh lực Chính Đạo (Forces of Light) đã chiến thắng bởi vì Thánh Đoàn bắt buộc phải can thiệp một cách mạnh mẽ và với sự trợ giúp của một số các Đấng Cao Cả (Great Lives) bên ngoài sự sống hành tinh chúng ta, các Ngài đã đưa nền văn minh thời Atlantis đến một kết thúc bất ngờ không đoán trước được (abrupt end) sau một thời kỳ hỗn mang và tai họa kéo dài. Điều này xảy ra bằng một tai họa đưa đến kết quả là xóa đi hàng trăm ngàn con người khỏi mặt đất. Biến cố lịch sử này được lưu lại cho chúng ta trong truyền thuyết phổ thông là trận đại hồng thủy (great flood).

Những người sống sót được nói đến một cách tượng trưng trong Thánh kinh (Bible) như là những người được cứu thoát trên chiếc bè của ông Nô–Ê (Noah’s ark) và trong các kinh sách cổ, được diễn tả như sau:

“Giống như con long xà (dragon snake) từ từ duỗi mình ra, các con của nhân loại cũng thế, được hướng dẫn bởi Các Con của Minh Triết (Son of Wisdom), đã mở ra  các nếp cuộn và trải rộng ra giống như giòng nước ngọt đang tuôn chảy….Nhiều người yếu tim trong số họ đã chết trên đường đi. Nhưng đa số được cứu thoát”.

Việc nghiên cứu kỹ câu chuyện như đã đưa ra trong Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ cho thấy trạng thái phát triển còn non nớt (theo quan điểm đối với các tiêu chuẩn hiện đại của chúng ta) và đối với điểm tập trung vật chất và tình cảm về mặt cơ bản của nhân loại trong thời đó; điều đó cũng sẽ cho thấy năng lực huyền diệu của con người khi chinh phục và kiềm chế các giới dưới nhân loại và các sức mạnh hành khí (elemental forces) của hành tinh. Có hai khía cạnh đã được nghiên cứu dù là ít thôi.

Tuy nhiên, tầm quan trọng đã được đặt đúng vào sự can thiệp thiêng liêng; việc này đạt được thành công bằng việc cứu độ một thiểu số người lành mạnh về mặt  đạo  đức (từ ngữ “tâm linh” chưa dùng được, trừ phi một cách tương đối) và bằng việc hủy diệt những kẻ vì tập trung hay định hướng một cách sai lầm, và do đó, dành hết cho cuộc sống cái tham vọng vật chất và chỉ biết có vật chất. Hạt nhân này được giữ gìn, tạo thành nền tảng của căn chủng hiện nay của chúng ta, giống dân Aryan. Toàn bộ chủ đề của kinh Cựu Ước được xây dựng chung quanh sự phát triển và tăng trưởng của cái nhân này. Nói một cách tượng trưng, các cư dân ở trên bè, con cháu của họ và giống dân Do Thái đại diện cho phần còn lại được cứu vớt của nhân loại – được cứu vớt bất chấp chính họ muốn hay không và dù cho có các khó khăn to lớn mà Đại Huyền Môn phải đối phó.

Hai điểm biện minh cho sự chú tâm ở đây. Điểm thứ nhất và ít quan trọng theo quan điểm của linh hồn là sự biến mất khỏi địa cầu của gần như mọi dấu hiệu của  nền văn  minh kỳ diệu thời Atlantis, ngoại trừ đối với một số ít kho tàng khảo cổ vốn gây kích thích và gây sự chú tâm cho những người hoạt động sưu khảo hiện đại, cộng với các ký ức mơ hồ này của thành tựu khoa học cổ xưa đang dẫn dắt đạo sinh hiện đại đến việc tìm tòi và phát minh, đồng thời kích thích cho y khám phá ra và tạo ra những gì mà chúng ta gọi là các thành công của khoa học hiện đại.

Điểm thứ hai là điểm dành cho phần tốt lành của nhân loại, Thánh Đoàn rút lui vào hậu trường, để cho con người tìm lối thoát riêng của mình ra khỏi ảo vọng và ảo tưởng của chủ nghĩa duy vật theo các cách đúng và sau rốt đưa đến việc kết thúc các phân cách cổ xưa. Chiến tranh phải được đưa đến tột điểm và biểu lộ cuối cùng của nó với một quan điểm đưa đến việc tách ra cuối cùng của nó như là một cách đạt đến các mục đích mong muốn. 125

***

Tổng hợp sách trong Thư viện trái đất 

Facebook page

 

 

 

 

ĐỂ LẠI NHẬN XÉT

Please enter your comment!
Please enter your name here